Những mâm cỗ Tết của các dân tộc miền núi
Mỗi dân tộc từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên, các tỉnh có xen người dân tộc ngoài người Kinh có hình thức tổ chức Tết riêng, không dân tộc nào giống dân tộc nào về màu sắc và cách thức.
Khi mùa Xuân về
Trừ dân tộc Kinh (dân tộc Việt) ở miền xuôi là có Giao thừa sau buổi cúng ông Táo lên Trời, tiếp liền là ba ngày Tết chính với nhiều tục lệ, phong tục rất đậm tới từng gia đình, thôn xóm, từng người kể từ các emnhỏ đến người già... Còn các dân tộc khác không tổ chức Tết, diễn biến của dịp đón xuân như Tết không giống miền xuôi. Có chăng là dân tộc Mường, dân tộc Thái đón xuân cũng thoáng có Giao thừa, ba ngày Tết nhưng không y như dưới xuôi. Chỗ giống nhau trong Tết đón xuân về của các dân tộc trên miền núi là quây quần, hội tụ với bản, mường - người cùng dân tộc nhiều hơn qua các ngày hội, buổi múa, hát, đánh cồng, chiêng và các cuộc thi vui có nhiều người tham gia hơn là quầy tụ tại gia đình họ tộc. Khi đón xuân, ấy là lúc Tết đã về.
Cơm Tết
Tại từng gia đình, nhà nào cũng có cơm Tết chứ không gọi là cỗ Tết. Bởi có phải chỉ có lúc Giao thừa, sớm mồng Một mới bày cỗ Tết đâu? Cơm ngày Tết có nhiều món ăn, thức ăn hơn ngày thường. Phổ biến là các món: Luộc, nướng, canh (không có món kho, xào) và rán. Thịt luộc có: Thịt gà, lợn... với các vị luộc khác nhau (gà nhỏ, gà to) gà, vịt, lợn nhiềunhà không ăn lòng. Món nướng rất phong phú: Ngoài gà, lợn còn thịt chim, cá, sóc, chuột núi, thịt thú rừng như lợn lòi, nai, hoãng.

Đặc biệt có món sóc, chuột núi ướp khô gác trên giàn bếp, đến Tết mới ăn. Canh, có canh măng chua, măng tươi, măng khô, canh chua nấu với tai chua, nước thịt gà luộc thả ít lá lót cho thơm. Cơm là cơm gạo nếp đồ chín, đổ ra mủng, ai ăn tự bốc, nắm nhẹ thành nắm xôi trong lòng bàn tay rồi ăn luôn. Nước chấm dùng tiết gà luộc dằm nhỏ trộn với muối, hạt dổi, hạt tiêu, vắt chanh dặm với ớt chỉ thiên còn xanh (ương – chưa chín), đàn ông, người già còn có thêm cút rượu trắng. Cơm Tết râm ran, đậm đà là bởi cảnh sắc mùa xuân.
Cỗ ngoài trời
Dân tộc nào cũng mở hội, tổ chức các cuộc vui chơi, đi chơi đông người. Các cuộc thi, cuộc đua, múa hát, không đánh bạc, ít người say rượu. Thi, có thi bắn cung, bắn nỏ, đánh võ, đánh vật. Đua có đua ngựa, đua thuyền độc mộc. Đồ sộ và hùng vĩ nhất là các cuộc đua voi ở Tây Nguyên. Suốt ngày đêm rừng núi, bản, mường rộn rã, âm vang tiếng cồng, tiếng chiêng từ ngày này sang ngày khác cho đến hết tháng Giêng. Có thể gọi các cuộc thi, vui như ném còn, đánh đu, múa xoè tụ họp đông đảo trên bãi cỏ, gò đồi trong thung lũng là bữa cỗ ngoài trời thực sự. Nhiều người - nhất là người trẻ tuổi vui suốt từ sáng đến đêm mà vẫn không thấy đói.
Cỗ... tình yêu
Xin nói ngay: Đâu có rừng ban và hang động, thắng cảnh đẹp thì nơi ấy có cỗ tình yêu.
Hoa ban đẹp nhờ cây ban thích mọc ở nơi có đất đá ong, đất lẫn đá, sỏi. Ven núi, chân đồi là nơi ban rủ nhau đến quây quần. Không ai trồng được rừng ban và sự tích hoa lan ở mấy vùng có rừng ban, đều là câu chuyện tình yêu. Hoa ban có nhiều ở Tây Bắc, rải theo vách núi dọc sông Đà về tới tận tỉnh Hoà Bình – nơi này là hồ Sông Đà thuộc nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Hàng năm, khi hoa ban đồng loạt nở rộng trắng rừng, trắng từng khúc sông, ấy là lúc trai, gái khắp bản, mường rủ nhau đi đón mừng hoa ban, ngắt từng chùm hoa đẹp mang về. Hoa ban nở ở trong núi, đồi thì đón người đi bộ, đi ngựa đến.

Hoa ban trải trên vách núi dọc sông thì đón từng đoàn thuyền độc mộc hoặc mảng (chiếc bè được ghép bằng các cây nứa to hoặc bương dài chừng ba, bốn mét, rộng từ một mét đến một mét hai) thả xuôi theo dòng nước. Thuyền nào, mảng nào số người nam, nữ cũng bằng nhau. Tất cả đều còn trẻ. Quen nhau hay chưa quen, thuyền và mảng đều san sát thân ái đi bên nhau loang loáng cả mặt sông, tới vạt có hoa ban nở rộ, là là mặt nước thì chụm lại, dạt vào. Trên sông khi đi, họ vừa gõ thuyền, gõ mảng, hát đối đáp, nói cười râm ran mặt nước. Tới lúc hãm thuyền, hãm mảng dưới vòm hoa ban như rừng bướm trắng vẫy trên đầu họ mới níu rễ cây, vách đá, cây mọc sát nước để neo lại, trèo lên cùng tiếng cười, miệng vui, tay ngắt từng nhành hoa khác gì buổi liên hoan. Khi đi, có đôi đã là người tình của nhau, có đôi chỉ mới quen nhau hoặc mới hẹn nhau tới mùa hoa ban để kết bạn. Chỉ biết rằng đến lúc trở về, đầu mày cuối mắt của từng đôi đã quyện lấy nhau, hơn là đi ăn cỗ thật.
Người làm cỗ
Ấy là các bà mẹ, các chị em gái ở mỗi nhà. Không ai bảo ai, họ đã chặt củi đun trong một tháng, bởi dịp Tết là ngày đóng cửa rừng, không ai được đào dất, đẵn cây (dù là cây khô), bẻ măng và săn bắn. Vào Tết là đã đủ củi rồi. Cả việc hái lá dong, chẻ lạt để gói bánh chưng, bánh ống (bánh tét) nữa. Gạo nếp cũng được giã sẵn rồi. Toàn là những công việc của phụ nữ. Buông tay dao, tay chày lúc nào thì lại tay vải, tay kim may áo váy, khâu trái còn, đi xuống chợ đổi hàng và mua sắm mắm muối, đồ dùng cho dịp Tết.

Nghĩa là trước một tháng khi mùa xuân về, mọi công việc đã được làm xong. Chỉ còn việc múc nước và vác nước, nấu nướng thì ngày nào lo ngày ấy. Các cô gái ngoài việc nhà còn phải lo việc riêng cho mình, sao cho đến lúc mình có đi dự hội vui ngày Tết không còn phải lo lắng gì. Các bà mẹ có con nhỏ lại càng bận bịu hơn. Các chị biết rằng mình sẽ đứng ngoài để xem nhiều hơn là tham gia vào những cuộc vui. Các mẹ già thì trông coi việc nấu nướng và giữ lửa cho bếp hồng cả ngày lẫn đêm. Có bà còn ẵm cháu, trông cháu cho nàng dâu làm công việc khác. Tất cả đều việc ai người ấy làm, không phải căn dặn, í ới gọi nhau. Trẻ em hoàn toàn được chơi và ăn cơm Tết nhưng không được đi đâu xa. Có đi thì phải xin phép trước. Kẻo rừng rộng thế kia, biết đâu mà tìm. Trong nhà không bày cỗ, nhưng cỗ ở ngoài trời thì nhiều biết bao nhiêu. Đôi tay người phụ nữ miền núi bận rộn biết bao nhiêu mà cũng vui biết bao nhiêu..../.