Hạ tầng mở lối công nghiệp: Lạng Sơn sẵn sàng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
VOV.VN - Tỉnh Lạng Sơn đang đồng thời đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Nhà máy Nhiệt điện Na Dương II và hạ tầng các khu, cụm công nghiệp. Một bên bổ sung nguồn điện; một bên chuẩn bị mặt bằng, giao thông, cấp thoát nước và hệ thống xử lý nước thải để đón các dự án sản xuất.
Tỉnh Lạng Sơn đang đồng thời đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Nhà máy Nhiệt điện Na Dương II và hạ tầng các khu, cụm công nghiệp. Một bên bổ sung nguồn điện; một bên chuẩn bị mặt bằng, giao thông, cấp thoát nước và hệ thống xử lý nước thải để đón các dự án sản xuất. Nhưng để những công trình này thực sự trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, tiến độ xây dựng phải đi cùng khả năng vận hành và yêu cầu kiểm soát môi trường ngay từ khâu lựa chọn nhà đầu tư.
"Nguồn năng lượng" đón đầu làn sóng đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp
Tại công trường Nhà máy Nhiệt điện Na Dương II, hiện đang có 900 đến 1.000 công nhân làm việc theo ca để hoàn thiện những phần việc cuối và chuẩn bị chạy thử. Dự án có tổng mức đầu tư gần 4.100 tỷ đồng, công suất 110 MW, sử dụng nguồn than chất lượng thấp, hàm lượng lưu huỳnh cao tại mỏ Na Dương. Theo kế hoạch, trong tháng 9, nhà máy sẽ nhận điện từ lưới để phục vụ chạy thử, hướng tới phát điện thương mại trong năm 2026.
Khi Nhà máy Nhiệt điện Na Dương II vận hành, sản lượng điện dự kiến đạt khoảng 750 triệu kWh mỗi năm. Cùng với Nhà máy Nhiệt điện Na Dương I, tổng sản lượng của hai nhà máy ước đạt 1,36 tỷ kWh mỗi năm, bổ sung nguồn điện cho Lạng Sơn, Cao Bằng và khu vực lân cận. Dự án cũng giúp duy trì đầu ra cho than Na Dương, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt khí thải, nước thải và chất thải rắn trong suốt quá trình vận hành.
Ông Bùi Quốc Hùng, Trưởng phòng Kỹ thuật xây dựng, Ban Quản lý Dự án Nhà máy Nhiệt điện Na Dương II cho biết, dự án sử dụng công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn, phù hợp với loại than tại địa phương. Việc duy trì nhiệt độ đốt khoảng 900 độ C giúp hạn chế phát sinh khí NOx so với công nghệ đốt than phun.
“Dự án được triển khai thi công từ năm 2024, dự kiến sẽ hoàn thành, hòa lưới điện trong năm 2026 theo đúng tiến độ. Ban Quản lý thường xuyên đôn đốc nhà thầu tập trung nhân lực để triển khai đồng bộ các công việc đúng theo kế hoạch đề ra. Hiện lượng nhân công khoảng 900–1.000 người, đang bước vào giai đoạn chạy thử và trong tháng 9 sẽ nhận điện từ lưới về để bảo đảm kế hoạch phát điện trong năm 2026.”- ông Bùi Quốc Hùng khẳng định.
Mở rộng quỹ đất công nghiệp, hoàn thiện hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp
Nguồn điện là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ để hình thành năng lực sản xuất mới. Cùng thời điểm Na Dương II tăng tốc, Lạng Sơn đang mở rộng quỹ đất công nghiệp và hoàn thiện hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp. Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, địa phương đặt mục tiêu có 24 cụm công nghiệp, quy mô hơn 1.158 ha vào năm 2030; đến năm 2050 tăng lên 38 cụm, với tổng diện tích gần 2.000 ha.
Cụm công nghiệp Đình Lập là một trong những dự án đã thể hiện rõ hơn tiến độ này. Dự án có tổng quy mô hơn 71 ha; riêng giai đoạn 1, gần 23 ha hạ tầng kỹ thuật đã cơ bản hoàn thành, gồm đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước và khu xử lý nước thải. Theo chủ đầu tư, các doanh nghiệp thứ cấp đã ký thỏa thuận thuê khoảng 90% diện tích giai đoạn 1; một số nhà máy đang chuẩn bị khởi công và dự kiến hoạt động từ năm 2027.
Ông Trần Doãn Hoàng Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư kinh doanh An Phú Hưng, chủ đầu tư dự án cho biết: Giai đoạn đầu, cụm công nghiệp ưu tiên những ngành gắn với lợi thế kinh tế rừng như chế biến gỗ, sản xuất nhựa thông. Ở giai đoạn tiếp theo, chủ đầu tư dự kiến thu hút thêm các ngành công nghệ cao, sản xuất ít phát thải.
“Trong giai đoạn 1, chúng tôi đã có các nhà đầu tư về chế biến gỗ, sản xuất nhựa thông, đều là thế mạnh của địa phương khi có nhiều diện tích rừng. Dự kiến giai đoạn 2 sẽ thu hút các nhà đầu tư liên quan đến công nghệ cao, sản xuất xanh. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của chúng tôi trên tất cả mặt bằng đều trồng cây xanh phủ kín; các ngành nghề thu hút đầu tư tại cụm tập trung vào công nghệ cao, không gây ô nhiễm; nước thải ra môi trường đạt hạng A.”- ông Trần Doãn Hoàng Tùng cho biết thêm.
Ở quy mô lớn hơn, Khu công nghiệp VSIP Lạng Sơn có tổng vốn đầu tư hơn 6.300 tỷ đồng. Với khoảng 170 ha đất được giao trong đợt đầu, chủ đầu tư đặt mục tiêu hoàn thiện hạ tầng cốt lõi vào cuối năm 2026. Đến nay, 10 nhà đầu tư thứ cấp đã ký thỏa thuận giữ chỗ; 4 dự án trong các lĩnh vực linh kiện điện tử, hợp kim nhôm, trục in và thiết bị bảo hộ đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tiến độ xây dựng nhà máy và khả năng đưa các dự án này vào hoạt động sẽ là thước đo trực tiếp hơn cho sức hút của khu công nghiệp.
Kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn
Tính đến nay, Lạng Sơn có hai khu công nghiệp lớn là VSIP và Đồng Bành, với tổng diện tích hơn 710 ha; cùng 13 cụm công nghiệp, quy mô hơn 570 ha. Trong số các cụm công nghiệp, một cụm đã được lấp đầy, năm cụm đã khởi công; các dự án còn lại đang hoàn thiện thủ tục đầu tư, đất đai và xây dựng.
Việc gia tăng số lượng khu, cụm công nghiệp cũng khiến khâu lựa chọn dự án thứ cấp trở nên quan trọng hơn. Ông Hoàng Cao Thượng, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn cho biết, địa phương ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghiệp sạch, thân thiện với môi trường và chế biến sâu nông, lâm sản; đồng thời xem xét ngành nghề ngay từ khâu thẩm định đầu tư. Cũng theo ông Thượng, các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vừa mới được thành lập nên vẫn đang trong giai đoạn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Một số ít cụm công nghiệp đã đầu tư xong từng giai đoạn như Cụm công nghiệp Đình Lập, Hồ Sơn 1, Hòa Sơn 1, Bắc Sơn 2...
Từ nay đến năm 2027, mỗi dự án vẫn còn những mốc việc cụ thể phải hoàn thành. Cùng với tiến độ đó là yêu cầu vận hành thực chất hệ thống xử lý nước thải, kiểm soát phát thải và sử dụng đất hiệu quả. Vì vậy, mục tiêu để công nghiệp đóng góp rõ hơn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của Lạng Sơn được thể hiện trước mắt bằng việc có nguồn điện ổn định, nhà máy đi vào sản xuất, việc làm được tạo ra và các tiêu chuẩn môi trường được duy trì trong quá trình vận hành.