Hiệp định VIFTA: Vẫn còn khoảng trống về đầu tư, công nghệ
VOV.VN - Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (Hiệp định VIFTA) sau gần 2 năm thực thi dù thương mại hai chiều liên tục tăng trưởng, nhưng nhìn chung không gian hợp tác vẫn còn khoảng trống về đầu tư, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển năng lực sản xuất.
Đây chính là bài toán cần có lời giải sớm để Hiệp định VIFTA trở thành cầu nối cho công nghệ Israel được ứng dụng thực chất trong hoạt động sản xuất tại Việt Nam. Giúp các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tiếp nhận công nghệ, còn nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ, hình thành những chuỗi giá trị có sự tham gia sâu của các doanh nghiệp hai nước.
Còn tâm lý e ngại khi giao dịch tiếp xúc
Khẳng định Hiệp định VIFTA đã phát huy lợi thế, tạo xung lực mạnh mẽ cho quan hệ hợp tác nói chung và trao đổi thương mại nói riêng giữa hai nước, ông Lê Thái Hòa, Tham tán Thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel cho biết, qua gần 2 năm thực thi, Israel xóa bỏ thuế quan và áp dụng hạn ngạch ưu đãi giúp nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, nâng cao sức cạnh tranh và thâm nhập tốt hơn vào thị trường này.
“Ngày càng có nhiều doanh nghiệp, thương nhân, nhà đầu tư và khách du lịch Israel quan tâm đến thị trường cũng như đối tác Việt Nam. Các doanh nghiệp Israel tích cực sang Việt Nam khảo sát thị trường, tham dự các sự kiện xúc tiến thương mại, đầu tư, kết nối giao thương, tìm kiếm đối tác bạn hàng, nhà cung cấp để ký kết hợp đồng mua hàng”, ông Hòa thông tin.
Tuy nhiên, ông Hòa cũng thẳng thắn nhìn nhận, do địa bàn Israel có những yếu tố nhạy cảm và bất ổn về an ninh chính trị, quân sự có tác động lan tỏa ra cả khu vực Trung Đông, nên các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung còn tâm lý e ngại khi giao dịch tiếp xúc với thị trường này.
Cụ thể là các doanh nghiệp Israel thường chủ động hơn và tích cực trong việc tiến hành giao dịch, tìm kiếm đối tác, sang thị trường Việt Nam tham dự các sự kiện xúc tiến thương mại đầu tư để tìm kiếm, gặp gỡ đối tác, phát hiện ra các cấp cơ hội hợp tác với nhau. Nhưng cách hiểu và quan niệm khác nhau về thói quen văn hóa, tập quán kinh doanh, khái niệm về hợp tác đầu tư cũng như chuyển giao công nghệ giữa hai bên cũng còn có sự khác biệt.
“Phía Việt Nam thường có xu hướng tìm đặt hàng, thậm chí mua một công nghệ cụ thể nhất định theo nhu cầu cụ thể và muốn xem kiểm tra tận gốc vấn đề. Trong khi đó, phía Israel thường tiếp cận theo hướng nhà thầu cung cấp dịch vụ trọn gói cho dự án của Việt Nam, có mức ngân sách tài chính theo hướng chi trả "mua đứt, bán đoạn" và bản chất đó là mua bán, cung cấp dịch vụ trọn gói”, ông Hòa chỉ ra.
Hiểu được tầm quan trọng của việc hợp tác với các đối tác Việt Nam, ông Chen Peretz, Tham tán thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam cho rằng, đây không chỉ là quyết định sáng suốt về mặt kinh doanh, các doanh nghiệp Israel còn có thể dựa vào đội ngũ tại địa phương để hiểu rõ hơn về thị trường và điều chỉnh cho phù hợp.
“Các doanh nghiệp Israel cần nhận thức rằng, thị trường Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt, cho nên 1 sản phẩm của Israel có thể phù hợp với các thị trường khác, nhưng vẫn cần được thay đổi, điều chỉnh để đáp ứng thị trường sở tại mới thành công. Những doanh nghiệp Israel cần hiểu được điều đó khi tìm được đối tác địa phương phù hợp; có khả năng xây dựng đội ngũ tại Việt Nam sẽ có nhiều khả năng thành công hơn, nên việc điều chỉnh sản phẩm theo hướng phù hợp với thị trường là rất quan trọng”, ông Chen Peretz chỉ ra.
Tiếp cận công nghệ để làm tăng nội lực doanh nghiệp
Mặc dù các doanh nghiệp Israel đã rất chủ động, nỗ lực để có thể tìm kiếm những cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, điều quan trọng năng lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước đến đâu. Điều này được PGS.TS. Ngô Trí Long cho rằng, có 4 điểm nghẽn lớn nhất đang kìm hãm khả năng hợp tác và phát huy tiềm năng giữa các doanh nghiệp hai nước.
Thực tế tư duy quản trị và tổ chức tiếp cận công nghệ của các doanh nghiệp trong nước còn rất hạn chế. Cùng đó, hạn chế về nguồn lực tài chính khi đầu tư vào nghiên cứu phát triển thường đi cùng rủi ro rất lớn và thời gian thu hồi vốn dài. “Với rủi ro này những doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có khả năng thực hiện được. Doanh nghiệp Việt Nam có thể vay vốn để mua công nghệ, mua thiết bị, mua phần mềm nhưng rất khó có khả năng để vay, để mua để có thể nghiên cứu, đổi mới sáng tạo”, PGS.TS. Ngô Trí Long nói.
Cũng theo PGS.TS. Ngô Trí Long, liên kết giữa các doanh nghiệp, các Viện nghiên cứu, các trường Đại học hiện nay còn rất hạn chế, điều này đã dẫn đến những hạn chế khi liên kết, liên doanh trong nước và nước ngoài, làm giảm khả năng hấp thụ năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.
“Thành công lớn nhất của hợp tác giữa Việt Nam và Israel không phải là có bao nhiêu doanh nghiệp được mua máy, thiết bị, máy móc của Israel. Cần làm sao để từ việc mua sắm thiết bị công nghệ làm tăng nội lực của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải mạnh hơn trong làm chủ công nghệ, nâng cao khả năng hấp thụ để tạo điều kiện nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả và đổi mới sáng tạo”, PGS.TS. Ngô Trí Long nhìn nhận.
Nếu thương mại hàng hóa là một trong những nền tảng trực tiếp của Hiệp định VIFTA, công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo có thể trở thành những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng hợp tác trong giai đoạn tiếp theo. Israel có thế mạnh về công nghệ cao, AI, nông nghiệp công nghệ cao và khả năng thương mại hóa các giải pháp đổi mới sáng tạo. Việt Nam lại có nền tảng sản xuất, thị trường, nguồn nhân lực và ngày càng tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Chính sự bổ trợ này sẽ tạo ra dư địa để hai bên chuyển từ quan hệ thương mại đơn thuần sang hợp tác sản xuất, đồng phát triển công nghệ và hình thành các chuỗi giá trị mới.