Lãi suất giảm, vì sao doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận vốn?
VOV.VN - Lãi suất cho vay có xu hướng giảm nhưng khả năng tiếp cận vốn của DN nhỏ và vừa vẫn là điểm nghẽn. Thiếu tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính chưa chuẩn hóa, dòng tiền thiếu minh bạch cùng các điều kiện tín dụng chặt chẽ khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, hạn chế khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Lãi suất giảm, doanh nghiệp vẫn khó vay
Vốn tín dụng được xem là một trong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp duy trì sản xuất, mở rộng quy mô và đầu tư công nghệ. Tuy nhiên, với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), câu chuyện không chỉ nằm ở mức lãi suất niêm yết mà còn ở khả năng đáp ứng các điều kiện để khoản vay thực sự được giải ngân.
Theo khảo sát của VCCI, 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể tiếp cận khoản vay nếu không có tài sản bảo đảm. Trong khi đó, 93,5% các khoản vay của doanh nghiệp có yêu cầu tài sản thế chấp. Những con số này cho thấy tài sản bảo đảm vẫn là một trong những "cánh cửa" quan trọng nhất quyết định khả năng tiếp cận tín dụng.
TS. Hoàng Trọng Thủy cho rằng, DNNVV thường bất lợi hơn doanh nghiệp lớn bởi hạn chế về tài sản, năng lực quản trị và mức độ chuẩn hóa thông tin tài chính. Nếu ngân hàng chủ yếu đánh giá khả năng trả nợ dựa trên tài sản thế chấp, nhiều doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi vẫn có thể bị loại khỏi thị trường tín dụng.
Trong khi đó, ông Thái Doãn Duyên, Giám đốc Công ty Đầu tư và Tái cơ cấu tài chính Việt, nhận định khó khăn tiếp cận tín dụng hiện không còn là câu chuyện riêng của DNNVV.
"Thực tế hiện nay cho thấy khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng không còn là câu chuyện của riêng một nhóm đối tượng nào, mà nó đang bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế", ông Duyên nói.
Theo ông Duyên, ngay cả những doanh nghiệp lớn, có thương hiệu và quy mô tập đoàn cũng đang gặp trở ngại khi tìm kiếm dòng vốn mới. Với doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh cá thể, rào cản còn lớn hơn do năng lực tài chính và tài sản bảo đảm hạn chế.
Một nghịch lý được ông Duyên chỉ ra, dù chính sách điều hành liên tục nhấn mạnh việc giảm lãi suất để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, nguồn vốn giá rẻ chưa chắc đã đến được với mọi doanh nghiệp. Trong ngắn hạn, chi phí huy động vốn của ngân hàng, đặc biệt là lãi suất tiền gửi, vẫn tạo áp lực lên giá vốn đầu vào. Vì vậy, khi giảm lãi suất cho vay, ngân hàng phải cân đối giữa yêu cầu hỗ trợ khách hàng và biên lợi nhuận. Điều này khiến tác động của việc giảm lãi suất có thể chưa đồng đều giữa các nhóm khách hàng.
Ông Duyên cho rằng trong quá trình phòng ngừa rủi ro, ngân hàng có xu hướng nâng yêu cầu về tài sản bảo đảm, khiến khả năng tiếp cận vốn tín chấp của doanh nghiệp bị thu hẹp.
Cần chuyển từ "tài sản thế chấp" sang khả năng tạo doanh thu
Với DNNVV, việc phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp đang tạo ra vòng luẩn quẩn: doanh nghiệp thiếu tài sản thì khó vay, khó vay thì thiếu vốn đầu tư, thiếu vốn lại khó mở rộng quy mô và cải thiện năng lực tài chính.
Theo TS. Hoàng Trọng Thủy, quan trọng là ngân hàng cần tăng cường đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền và khả năng tạo doanh thu trong tương lai, thay vì chỉ tập trung vào tài sản bảo đảm.
Cách tiếp cận này đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch hơn về tài chính, chuẩn hóa sổ sách, hóa đơn, hợp đồng, doanh thu và dòng tiền. Khi dữ liệu kinh doanh đủ rõ ràng, ngân hàng có thêm cơ sở để đánh giá rủi ro và khả năng trả nợ.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Mai Ngọc Vượng, Giám đốc Công ty TNHH xây dựng Linh Anh cho biết, đặc thù hoạt động xây dựng khiến doanh nghiệp thường phải ứng trước tiền nguyên vật liệu, nhân công và các chi phí phục vụ công trình, trong khi thời gian thu hồi công nợ có thể kéo dài.
Vì vậy, nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp khá lớn. Khi việc tiếp cận tín dụng gặp khó, doanh nghiệp buộc phải cân đối lại kế hoạch sản xuất, nhận đơn hàng và mở rộng thị trường.
Vì vậy, vốn lưu động có ý nghĩa đặc biệt với doanh nghiệp dịch vụ. Dòng tiền không được bổ sung kịp thời có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, khó duy trì nhân sự và hạn chế khả năng đầu tư cho những dự án mới.
Từ thực tế này, ông Duyên cho rằng, cần nhìn nhận lại toàn bộ quá trình tiếp cận vốn, từ lãi suất, điều kiện tín dụng đến cách thức đánh giá rủi ro. Nếu doanh nghiệp có hợp đồng, đơn hàng, dòng tiền và phương án kinh doanh khả thi thì đây cũng phải là những dữ liệu quan trọng trong quyết định cấp tín dụng.
Cùng với đó, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho DNNVV cần được phát huy hiệu quả hơn, giúp những doanh nghiệp có phương án kinh doanh tốt nhưng thiếu tài sản thế chấp có thêm cơ hội vay vốn.
Về phía doanh nghiệp, việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng cũng không thể chỉ trông chờ vào ngân hàng. DNNVV cần chủ động chuẩn hóa báo cáo tài chính, minh bạch dòng tiền, nâng cao quản trị và xây dựng lịch sử tín dụng tốt.
Nếu vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tài sản thế chấp, một bộ phận lớn DNNVV sẽ tiếp tục đứng ngoài thị trường tín dụng dù có cơ hội kinh doanh. Ngược lại, nếu hệ thống ngân hàng có thể khai thác tốt dữ liệu, dòng tiền và phương án kinh doanh, khả năng tiếp cận vốn của khu vực doanh nghiệp này sẽ thực chất hơn, qua đó tạo thêm động lực cho sản xuất, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.