Quản lý thuế: Minh bạch hóa giao dịch, dữ liệu và dòng tiền
VOV.VN - Ông Nguyễn Tiến Trung - Trưởng ban Kiểm tra thuế, Cục Thuế cho biết, ngành thuế đang tập trung theo hướng minh bạch hóa giao dịch, dữ liệu và dòng tiền, đồng thời tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý các hành vi gian lận có tổ chức, bảo đảm môi trường kinh doanh công bằng và đúng pháp luật.
Chia sẻ tại Hội thảo “Quản lý thuế theo dòng tiền: Dòng tiền rõ ràng, kinh doanh an tâm, thuế minh bạch” diễn ra sáng nay (20/5), ông Nguyễn Tiến Trung - Trưởng ban Kiểm tra thuế, Cục Thuế - nêu một số hình thức, hành vi mà các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện có tiềm ẩn những dấu hiệu rủi ro về dòng tiền đối với công tác quản lý thuế.
"Vạch trần" một số loại hình trốn, né thuế
Ông Nguyễn Tiến Trung cho biết, hình thức thứ nhất là thông qua hợp đồng vay vốn nội bộ. Theo đó, công ty mẹ chuyển tiền cho công ty con thông qua các hợp đồng vay vốn với lãi suất cao bất thường hoặc ngược lại cho vay với lãi suất thấp hoặc thậm chí không có lãi suất. Việc thông qua hợp đồng vay vốn nhằm mục đích điều chuyển tiền giữa các đơn vị (thông qua đó điều chuyển lợi nhuận, điều tiết doanh thu, chi phí) nhằm giảm lợi nhuận tính thuế đối với những đơn vị có phát sinh doanh thu.
Hình thức thứ hai là công ty mẹ bán hàng cho công ty con với giá bất thường (nhằm mục đích chuyển lợi nhuận) hoặc ngược lại công ty con mua các dịch vụ từ công ty mẹ với giá không hợp lý thông qua hình thức là các dịch vụ quản lý, tư vấn, giám sát… nhằm điều chỉnh tăng chi phí và giảm thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng khấu trừ đầu vào đối với thuế VAT.
Hình thức thứ ba là thông qua hợp đồng hợp tác đầu tư, góp vốn, tuy nhiên phân chia lợi nhuận không tương xứng với phần vốn góp, ghi nhận lợi nhuận về những đơn vị có thể được nhận ưu đãi về thuế.
Hình thức thứ tư là doanh nghiệp chuyển tiền cho doanh nghiệp (từ công ty mẹ sang công ty con hoặc ngược lại) hoặc chuyển tiền cho các cá nhân dưới hình thức là các khoản tạm ứng kéo dài không rõ mục đích hoặc các khoản tài trợ phi thương mại không có mục đích.
Một số hình thức khác nữa là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có phát sinh doanh thu, dòng tiền lớn thông qua hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, tuy nhiên không thực hiện đăng ký, kê khai nộp thuế. Cùng đó, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có thực hiện đăng ký thuế nhưng thực hiện phân chia doanh thu vào các tài khoản của cá nhân khác không phải tài khoản đăng ký kinh doanh với cơ quan Thuế mục đích che giấu dòng tiền, làm giảm nghĩa vụ kê khai nộp thuế.
Trưởng ban Kiểm tra thuế kiến nghị, trong thời gian tới, cần xây dựng kiến trúc dữ liệu liên thông giữa cơ quan thuế với ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán, sàn thương mại điện tử và các cơ quan quản lý liên quan; lấy định danh điện tử và mã số thuế làm nền tảng kết nối dữ liệu.
"Ngành Thuế cũng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong phân tích rủi ro. Nếu được triển khai đồng bộ về thể chế, công nghệ, dữ liệu và tổ chức thực hiện, quản lý thuế theo dòng tiền sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, công bằng của hệ thống thuế; tăng cường kỷ luật tài chính; thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia; tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh và bền vững trong nền kinh tế số", ông Nguyễn Tiến Trung nêu quan điểm.
Nhiều thách thức với công tác quản lý thuế
Ông Đặng Ngọc Minh - Phó Cục trưởng Cục Thuế - cho rằng, hiện nay nhiều hoạt động kinh doanh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số, các giao dịch phát sinh nhanh, quy mô lớn và có tính xuyên biên giới. Nếu chỉ dựa vào phương thức quản lý truyền thống chủ yếu dựa trên kê khai thuế, hồ sơ kế toán và công tác hậu kiểm thì trong một số trường hợp chưa phản ánh đầy đủ bản chất của các giao dịch kinh tế.
"Những thay đổi này đã mang lại nhiều cơ hội thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đối với công tác quản lý nhà nước nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng", ông Minh nói.
Trong những năm qua, ngành Thuế đã triển khai nhiều giải pháp quan trọng nhằm hiện đại hóa công tác quản lý thuế như: triển khai thành công hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền trên phạm vi toàn quốc; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các khâu của quy trình quản lý thuế; triển khai Cổng thông tin dành cho nhà cung cấp nước ngoài; xóa bỏ cơ chế khoán và thực hiện cơ chế kê khai đối với hộ kinh doanh; xây dựng các hệ thống quản lý rủi ro và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành và các tổ chức liên quan.
Ông Đặng Ngọc Minh nhấn mạnh: Việc triển khai hóa đơn điện tử đã tạo ra một nguồn dữ liệu rất lớn về các giao dịch kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế. Nguồn dữ liệu này sẽ cơ bản đầy đủ và đáp ứng cho công tác quản lý nếu người nộp thuế tuân thủ và thực hiện đúng quy định. Trong thời gian tới, cơ quan thuế sẽ lấy dữ liệu hóa đơn điện tử là trung tâm, là căn cứ để so sánh, đối chiếu với những dòng tiền khác của người nộp thuế, từ đó xác định nghĩa vụ thuế thực tế phát sinh, phân tích rủi ro và thực hiện kiểm tra nếu thực sự cần thiết.
Trong chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030, ngành thuế đặt mục tiêu xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại, minh bạch, hiệu quả, lấy dữ liệu làm nền tảng và lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ. Để đạt được mục tiêu này và thực hiện hiệu quả công tác quản lý thuế theo dòng tiền đòi hỏi có sự phối hợp, chia sẻ thông tin của các cơ quan, đơn vị như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Ngân hàng thương mại, các trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển…
"Cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin cần được quy định rõ ràng, mang tính thường xuyên, tự động và theo thời gian thực. Khi đó, dữ liệu hóa đơn và thông tin dòng tiền từ các nguồn khác sẽ tạo nên một bức tranh toàn cảnh, một “hệ sinh thái” về dòng tiền của một người nộp thuế hoặc nhóm người nộp thuế, từ đó có thể phát hiện sớm rủi ro và xác định được nghĩa vụ thuế thực tế phát sinh, không chỉ góp phần chống thất thu ngân sách nhà nước mà còn giúp nâng cao tính minh bạch của nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh cho cộng đồng doanh nghiệp", ông Đặng Ngọc Minh nêu rõ.
Kết nối hệ sinh thái số
Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư Vấn Thuế Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, việc kết nối hệ sinh thái số giữa ngân hàng, tín dụng- cơ quan thuế và nền tảng công nghệ là yêu cầu bắt buộc trong quản lý thuế hiện đại.
"Với số lượng rất lớn doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh (trong tương lai gần còn có doanh nghiệp một người) và các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng, thương mại điện tử... ngày càng phát triển, hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng; thì việc quản lý thuế thủ công, kết hợp thủ công với ứng dụng CNTT không còn hiệu quả, trở nên lạc hậu, quá tải trong nền kinh tế số.
Khi mà giao dịch phát sinh trong nền kinh tế số ngày càng lớn, phong phú, phức tạp nếu không có sự kết nối giữa ngân hàng, cơ quan thuế và các nền tảng công nghệ thì việc quản lý doanh thu, chi phí, kiểm soát dòng tiền để thu đầy đủ tiền thuế vào NSNN có thể khẳng định là không thực hiện được", bà Cúc chia sẻ.
Do đó, cần tổ chức thu thuế điện tử, quản lý hóa đơn điện tử kể cả hóa đơn điện tử từ máy tính tiền kết nối dữ liệu với cơ quan thuế; hướng dẫn, giám sát kê khai thuế khai, nộp, quyết toán thuế điện tử qua Etax mobi, cổng dịch vụ công... thông qua kết nối thanh toán với ngân hàng, TCTD vừa nhanh chóng, thuận lợi vừa tiết kiệm chi phí, thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian cho người nộp thuế, cơ quan thuế và cho toàn xã hội, nâng cao hiệu quả thu NSNN
"Thông qua kết nối hệ sinh thái số, cơ quan thuế thực hiện đối chiếu dữ liệu doanh thu, chi chi phát sinh với dòng tiền thanh toán; doanh thu trên hoa đơn điện tử, doanh thu kê khai làm cơ sở tính thuế, chi phí tính thuế: xác minh tính chính xác của việc tự xác định số thuế phải nộp, tư kê khai, tự nộp của người nộp thuế giúp quản lý doanh thu minh bạch và chính xác hơn", bà Cúc khẳng định.