Hà Nội có thôn nhưng không có làng
Từ những tên gọi quen thuộc như làng, thôn, chạ đến cách tổ chức phường phố ở kinh đô Thăng Long, mỗi địa danh đều mang trong mình dấu vết của lịch sử, văn hóa và quá trình hình thành cộng đồng cư dân Việt.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến đưa người đọc ngược dòng thời gian để lý giải vì sao Thăng Long xưa “không phải là một cái làng lớn”, đồng thời hé mở những lớp nghĩa thú vị ẩn sau các tên gọi hành chính tồn tại hàng trăm năm giữa lòng Hà Nội.
Xa xưa làng là một tập hợp những người thường có cùng huyết thống, và một làng chỉ có một họ, vì thế mới có làng Dương Xá (làng của họ Dương), Đỗ Xá (làng của người họ Đỗ), làng Đặng Xá (làng của người họ Đặng). Vậy vì sao lại có thôn?
Gọi là thôn vì thôn khác làng, người trong thôn có người cũ, người di cư từ nơi khác đến và một thôn ít nhất có hai họ trở lên. Đây chính là cơ sở để các triều đại quân chủ đặt là làng hay thôn. Thôn là từ gốc Hán, có nghĩa làng xóm, quê mùa, còn làng là từ thuần Việt.
Làng xuất hiện sớm hơn thôn, dưới làng có chạ, chạ tương đương với xóm ngày nay. Chạ là từ Việt cổ chỉ nơi tụ cư của một nhóm người hay một số gia đình. Ngày nay, các đoàn nghệ thuật truyền thống diễn các vở chèo cổ khi diễn màn giáo đầu bao giờ cũng bắt đầu bằng câu: “Chiềng làng, chiềng chạ”, tức là thưa với làng, trình với xóm.
Vì làng ra đời sớm hơn thôn nên người ta quen gọi là làng nhưng cũng có khi gọi là thôn. Ở nông thôn miền Bắc, khi đàn bà bị ức hiếp, họ gào to kêu cứu, thường bắt đầu bằng câu: “Ối làng nước ôi!...”. Người ta đi chiến đấu trước hết vì làng và luôn luôn nhớ về làng.
Người ta làm những điều tốt đẹp cũng vì làng. Khi làng có người thành đạt, mọi người tự hào, họ trở về được làng niềm nở đón tiếp. Xưa tên làng dù có gốc Hán hay thuần Việt đều có một giá trị, vì trong tên có lịch sử, văn hóa.
Hiểu được gốc rễ này nên trong sách “Đại Nam thực lục”, bộ chính sử của triều Nguyễn viết: “Nước là hợp của các làng mà thành. Từ làng mới đến nước. Dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước”.
Ở kinh đô Thăng Long, cấp hành chính cuối cùng không phải là xã mà là phường. Chỉ có Thăng Long mới có cấp phường dù ở phía tây nam kinh đô có làng làm nông nghiệp. Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn, cho chuyển kinh đô vào Huế.
Năm 1805, vua Gia Long sai phá bỏ thành nhà Lê, xây thành mới nhỏ hơn gọi là Bắc thành, đến triều vua Minh Mạng đổi là Thành Hà Nội. Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên thành Hoài Đức, huyện Vĩnh Xương thành Thọ Xương, Quảng Đức thành Vĩnh Thuận.
Vì không còn là kinh đô nên Gia Long đã “nhà quê hóa” Thăng Long, chia 36 phường thời Lê thành nhiều phường, thôn, trại, dưới phường, thôn, trại có các giáp, bảo.
Giữa huyện và phường, thôn, trại có cấp trung gian gọi là tổng. Các phố tên Hàng hình thành từ triều vua Tự Đức đều xuất xứ từ tên thôn dưới triều vua Gia Long, thôn Hàng Bài đổi thành phố Hàng Bài, thôn Hàng Cháo đổi thành phố Hàng Cháo, thôn Hàng Đàn đổi thành phố Hàng Đàn...
Việc đặt tên phường, thôn, trại ngoài dùng các tên có từ trước còn dựa vào vị trí là: thượng, hạ, nội, ngoại, tả, hữu và phương hướng như: đông, đoài, bắc, nam. Có tên phường, thôn tới 8 ký tự.
Năm 1831, vua Minh Mạng thực hiện cải cách hành chính, lập tỉnh Hà Nội trong đó có phủ Hoài Đức với hai huyện là Thọ Xương và Vĩnh Thuận. Ở hai huyện này, vua Minh Mạng vẫn giữ nguyên phường, thôn, trại nhưng sáp nhập nhiều phường, thôn với nhau để giảm bớt số đơn vị hành chính.
Lâu nay khi nói về Hà Nội xưa nhiều người thường nói Hà Nội là cái làng lớn, nói vậy là không đúng vì trong lịch sử, Thăng Long chưa bao giờ có làng, còn việc gọi các thôn ngoại ô là làng chỉ là theo thói quen.