Vai trò của Đảo Ulithi trong cuộc chiến giữa quân Đồng minh và phát xít Nhật

VOV.VN - Người Nhật không nhìn thấy giá trị chiến lược của đảo Ulithi và cũng không nghĩ rằng nơi đây có thể được sử dụng để chống lại họ nhưng các tiểu đoàn công binh Hải quân Mỹ chứng minh họ đã sai lầm.

Vào ngày 16/9/1944, khi Thủy quân lục chiến Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc tấn công lớn vào đảo Peleliu 9 (thuộc quần đảo Palau ở Micronesia), Đô đốc William Halsey, chỉ huy Hạm đội 3 của Hải quân Mỹ đã yêu cầu Quân đoàn Đổ bộ đường biển số 3 đánh chiếm đảo san hô vòng Ulithi nằm cách đó 643km. Bảy ngày sau, các binh sĩ từ Sư đoàn bộ binh 81 bắt đầu đổ bộ lên đảo san hô Ulithi.

Mặc dù người Nhật đã bỏ hòn đảo này trước đó vài tháng, nhưng cuộc đổ bộ của Mỹ ở thời điểm đó vẫn chưa thể thực hiện được.

Chỉ trong vòng 2 ngày, Mỹ đã hoàn thành hoạt động vận chuyển và hậu cần cần thiết. Ulithi nằm giữa đảo Guam (Mỹ) và Palau (Micronesia), cách thủ đô Tokyo của Nhật Bản hơn 2.000km đã trở thành một địa điểm quan trọng trong Thế chiến 2. Theo kế hoạch, hàng trăm tàu của quân Đồng minh tràn vào đầm phá của hòn đảo và hàng nghìn quân đánh chiếm các hòn đảo nhỏ. Việc có các đảo nhỏ nằm vươn xa trên biển sẽ cho phép quân đồng minh chiến đấu đến tận các bờ biển của Nhật Bản.

Căn cứ hải quân lớn nhất thế giới

Ulithi có khoảng 40 hòn đảo nhỏ. Nhưng chỉ 4 đảo trong số này có người sinh sống là Falalop, Asor, Mogmog và Fedarai. Các đảo nhỏ xếp thành một vòng tròn thuôn dài bao quanh một đầm phá có kích thước hơn 500 km2, sâu từ 24 m đến 30m.

Chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ Chester Nimitz đã phát hiện ra hòn đảo này trong khi xem xét bản đồ khu vực để tìm kiếm một vị trí thích hợp đặt căn cứ tiền phương hỗ trợ các chiến dịch.

Nhật Bản có một trạm quan trắc thời tiết trên đảo san hô này và sử dụng đầm phá của nó làm nơi neo đậu các con tàu của hạm đội và làm căn cứ cho thủy phi cơ ở giai đoạn đầu Thế chiến 2. Nhưng họ đã rút lui sau khi bị tàu sân bay Mỹ tấn công. Người Nhật không nhìn thấy giá trị chiến lược của đảo Ulithi và cũng không nghĩ rằng nó có thể được sử dụng để chống lại họ.

Nhưng các tiểu đoàn công binh Hải quân Mỹ (Seebee) đã nhanh chóng chứng minh Nhật đang đánh giá sai lầm. Họ đã biến Ulithi thành một căn cứ tiến công ngay lập tức sau khi đổ bộ vào đây cuối tháng 9/1944.

Seebee đã gia cố và kéo dài một đường băng bị bỏ lại trên đảo Falalop, lắp đặt các phao trong khu vực đầm phá để tàu thuyền neo đậu, thành lập trụ sở trên đảo Asor, xây dựng một bệnh viện 100 giường bệnh trên đảo Sorlen.

Hải quân Mỹ cũng chuyển người dân bản địa tại Ulithi đến một trong những hòn đảo nhỏ hơn, nơi mà họ sinh sống trong suốt phần còn lại của cuộc chiến. Mogmog, hòn đảo lớn nhất và dễ sinh sống nhất của Ulithi, đã trở thành một nơi trú ẩn rất cần thiết cho quân đội Mỹ.

Đầm phá là nơi quan trọng nhất của Ulithi. Hàng trăm tàu, trong đó có những nhóm tác chiến tàu sân bay và hàng chục thủy phi cơ neo đậu tại vùng nước này. Chúng được một đơn vị nhỏ gồm các kỹ sư của Hải quân và nhân viên hậu cần thuộc Hải đội Hậu cần số 10 kiểm tra, xem xét thường xuyên. Hải đội Hậu cần số 10 chịu trách nhiệm giám sát việc trang bị, tiếp tế, sửa chữa tàu thuyền và máy bay của hải quân, đồng thời hỗ trợ công việc hậu cần cần thiết trong chiến đầu. Toàn đơn vị có 400 tàu, bao gồm tàu sửa chữa, tàu chở dầu, tàu cần cẩu, tàu khử mặn, tàu kéo, ụ tàu nổi và xưởng nổi.

Sự trợ giúp của các tàu và thủy thủ thuộc Hải đội Hậu cần số 10 cho phép Hải quân Mỹ chiến đấu trên khắp Thái Bình Dương rộng lớn. Họ được gọi là “vũ khí bí mật của” chỉ huy Nimitz.

Ulithi đã trở thành một căn cứ cực kỳ quan trọng đối với Hải quân Mỹ. Tại đây, bất cứ con tàu nào cũng có thể được sửa chữa hoặc tái trang bị, còn quân đội có thể nghỉ ngơi và khôi phục sức chiến đấu. Những tàu sân bay neo đậu gần đó có thể tiếp tục triển khai các hoạt động cứu hộ, trinh sát và ném bom.

Chiến dịch Philippines (chiến dịch của quân Đồng Minh tiến hành trong Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm đánh bại lực lượng Nhật Bản đang chiếm đóng Philippines) và các tấn công hai đảo Iwo Jima, Okinawa của Nhật Bản đều được phát động từ Ulithi. Tại đảo san hô vòng này, phe Đồng minh chuẩn bị các hoạt động cho kế hoạch đánh chiếm các hòn đảo khác của Nhật Bản.

Vào cuối Thế chiến 2, Ulithi là căn cứ hải quân lớn nhất thế giới khi có tới 617 con tàu neo đậu. Tuy vậy, sự hiện diện của một số lượng lớn tàu cũng khiến nơi đây dễ trở thành mục tiêu tấn công. Nhật đã cố gắng sử dụng máy bay, tàu ngầm mini, thậm chí cả ngư lôi có người lái Kaiten để tấn công Ulithi.

Vào ngày 20/11/1944, Nhật đã đánh chìm tàu chở dầu USS Mississinewa, khiến 63 thủy thủ và sĩ quan thiệt mạng.

Ngày 11/3/1945, một máy bay cảm tử Thần phong (kamikaze) tầm xa đã tấn công tàu sân bay USS Randolph khiến 25 người thiệt mạng và 106 người bị thương. Randolph được sửa chữa tại Ulithi và tham gia cuộc tấn công Okinawa khoảng 1 tháng sau đó.

Phát xít Nhật thậm chí còn điều các tàu ngầm lớp I-400 cỡ lớn chở theo máy bay để tấn công Ulithi. Khi những tàu ngầm này đang trên đường tiến tới mục tiêu thì phát xít Nhật đầu hàng vì thế chúng buộc phải quay trở lại.  Ngày 22/8/1945, thủy thủ đoàn của các tàu ngầm được lệnh phá hủy tất cả vũ khí của họ. Các ngư lôi được bắn đi mà không có đích đến, các máy bay được phóng đi nhưng không mở cánh và đuôi.

Vai trò mới trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung

Ulithi phần lớn đã bị bỏ hoang sau chiến tranh, nhưng đảo san hô này một lần nữa trở thành tâm điểm chú ý và có thể đóng vai trò mới khi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng. Nhiều người lo ngại một cuộc xung đột khác tại Thái Bình Dương có thể xảy ra.

Một căn cứ tiền phương sẽ là điều vô giá trong một cuộc xung đột như vậy, đặc biệt khi tàu chiến mang tên lửa dẫn đường hiện đại không thể được tái trang bị vũ khí khi đang hoạt động trên biển. Báo cáo của Cơ quan thẩm định trách nhiệm của Chính phủ Mỹ (GAO) cho biết, nhu cầu về một căn cứ như vậy rất lớn vì Hải quân Mỹ có thể gặp khó khăn trong việc sửa chữa các tàu chiến bị hư hỏng nếu chiến tranh nổ ra giữa Mỹ với Trung Quốc hoặc Nga.

Do các tàu chiến hiện đại của Mỹ có thiết kế phức tạp cùng việc Mỹ cắt giảm cấp kinh phí sửa chữa khí tài quân sự hải quân và đóng cửa nhiều nhà máy đóng tàu sau Chiến tranh Lạnh, nên việc sửa chữa, bảo dưỡng những con tàu bị hư hỏng trong chiến đấu trở sẽ nên khó khăn hơn.

Hải quân Mỹ đang phải nỗ lực thực hiện một khối lượng lớn công việc sửa chữa. Các quan chức của Hải quân cho biết, việc bảo dưỡng các tàu mặt nước của hải quân đang đối mặt nguy cơ bị trì hoãn khoảng 4.200 ngày, làm giảm hiệu quả hoạt động của các hạm đội. Trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục đóng tàu, mở rộng phạm vi hoạt động của tên lửa cũng như tăng cường năng lực công nghiệp quốc phòng, Hải quân Mỹ cần phải tìm mọi cách tạo ra lợi thế cho lực lượng này./.