Nâng cao năng lực phòng vệ thương mại ngành nông sản
VOV.VN - Hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong lĩnh vực nông nghiệp phải được đo bằng năng lực tiêu chuẩn hóa sản phẩm nông sản, bằng bản lĩnh doanh nghiệp, khả năng nắm bắt những thị trường mới đầy tiềm năng và nâng cao năng lực phòng vệ thương mại.
Trong bối cảnh các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam gia tăng nhanh, nâng cao năng lực phòng vệ thương mại đang trở thành yêu cầu cấp thiết để bảo vệ thành quả xuất khẩu. Theo các chuyên gia, hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIV trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ là phát triển sản xuất mà còn phải xây dựng chuỗi giá trị minh bạch, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
Xuất khẩu nông sản Việt trước áp lực phòng vệ thương mại
Với vị thế nằm trong nhóm 20 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất thế giới và nằm trong top 15 quốc gia xuất khổ nông sản lớn nhất thế giới, hàng hóa Việt Nam đang trở thành “tâm điểm” của các cuộc điều tra phòng vệ thương mại.
Tính đến tháng 5/2026, Việt Nam đã phải đối mặt với 328 vụ việc điều tra từ 27 thị trường. Chỉ riêng 4 tháng đầu năm nay đã phát sinh thêm hơn 20 vụ việc mới, tăng hơn 100% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường khởi xướng điều tra nhiều nhất với 80 vụ việc, chiếm gần 25% tổng số vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam. Trong 5 nhóm ngành được đánh giá có rủi ro cao nhất thì có tới 3 nhóm thuộc lĩnh vực nông nghiệp là gỗ, thủy sản, mật ong.
Bà Nguyễn Yến Ngọc, Trưởng Phòng Xử lý Phòng vệ Thương mại nước ngoài, Cục Phòng vệ Thương mại, Bộ Công Thương cho biết, trong những năm gần đây, không chỉ các mặt hàng truyền thống như tôm, cá tra, cá ba sa phải đối mặt với việc phòng vệ thương mại mà nhiều mặt hàng nhỏ cũng bị nhắm tới, như mặt hàng đĩa giấy, mật ong...
“Đối với sản phẩm mật ong của Việt Nam, Hoa Kỳ khởi xướng điều tra ngày 14/5/2021. Vụ việc mang tính chất phức tạp, doanh nghiệp nhỏ chưa có kinh nghiệm về phòng vệ thương mại và liên quan tới sinh kế của 4 vạn người nông dân Việt Nam. Kết luận thuế sơ bộ 410,93 - 413,99% đến kết luận rà soát hành chính lần 2 (8/6/2026) thuế suất toàn quốc vẫn là 60,03%”, bà Ngọc thông tin.
Các vụ việc này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp mà còn tác động tới chuỗi cung ứng, sản xuất và tiêu thụ nông sản trong nước. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp vẫn còn hạn chế về nhận thức, kinh nghiệm và năng lực ứng phó. Không ít doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu kế toán, sản xuất và truy xuất nguồn gốc đầy đủ để phục vụ điều tra; đồng thời còn thiếu thông tin về quy trình, thủ tục và cách thức phối hợp với cơ quan quản lý khi xảy ra tranh chấp thương mại.
Với hơn 40 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu lúa gạo, ông Phạm Hoàng Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Lam Rice Group chia sẻ: “Môi trường thương mại quốc tế đang thay đổi rất nhanh. Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến giá thành, chất lượng và thị trường tiêu thụ thì ngày nay doanh nghiệp phải đối mặt với những yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững, giảm phát thải carbon, trách nhiệm xã hội và tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng”.
Theo ông Lâm, phòng vệ thương mại không bắt đầu ở cảng xuất khẩu. Phòng vệ thương mại bắt đầu từ cánh đồng lúa. Nếu doanh nghiệp không kiểm soát được vùng nguyên liệu thì sẽ không thể truy xuất nguồn gốc. Nếu không truy xuất được nguồn gốc thì rất khó đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
“Vì vậy, việc xây dựng vùng nguyên liệu minh bạch phải được xem là nền tảng đầu tiên của công tác phòng vệ thương mại. Doanh nghiệp cần liên kết chặt chẽ với nông dân, hợp tác xã và địa phương để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, minh bạch và có khả năng truy xuất toàn bộ quá trình sản xuất”, ông Lâm cho biết thêm.
Ngoài ra, dữ liệu vùng nguyên liệu quan trọng không kém nhà máy chế biến. Trong tương lai, dữ liệu chính là tài sản chiến lược của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần quản lý được toàn bộ dữ liệu từ giống lúa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhật ký canh tác, thu hoạch, sấy, tồn kho, chế biến cho đến xuất khẩu.
“Khi xảy ra các cuộc điều tra hoặc xác minh từ khách hàng quốc tế, dữ liệu chính là bằng chứng quan trọng nhất để bảo vệ doanh nghiệp”, ông Lâm nêu rõ.
Thêm nữa, doanh nghiệp không thể chờ đến khi bị điều tra mới chuẩn bị hồ sơ. Hồ sơ phải được chuẩn bị ngay từ khi gieo hạt đầu tiên.
“Qua theo dõi nhiều vụ việc phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn khó khăn của doanh nghiệp không nằm ở chất lượng sản phẩm. Khó khăn lớn nhất nằm ở việc thiếu dữ liệu, thiếu hồ sơ và thiếu khả năng chứng minh nguồn gốc sản phẩm. Đây là bài học rất lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp”, ông Lâm bày tỏ.
Đồng quan điểm, PGS-TS Đinh Công Hoàng, Trưởng phòng nghiên cứu Trung Đông và Tây Á. Viện nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Viện Hàn Lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam nhận định, mặc dù Việt Nam là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất nhì thế giới, tuy nhiên việc định vị thương hiệu gạo quốc gia vẫn ở những bước đầu.
“Các quốc gia xuất khẩu gạo như Brazil, Australia họ đã có quy trình hóa rất rõ về truy xuất nguồn gốc hệ thống sản xuất theo tiêu chuẩn từ “nông trại đến bàn ăn”. Vì thế, người mua từ Dubai, Arabia Saudi… khi mua gạo hala họ không nghĩ đến Việt Nam mà chọn gạo của Thái Lan, Ấn Độ… dù chất lượng gạo Việt Nam rất chất lượng và cạnh tranh. Đây là bài toán định vị thương hiệu phải giải quyết đồng thời với các bài toán về tiêu chuẩn kỹ thuật”, PGS-TS Đinh Công Hoàng cho hay.
Hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIV, mở rộng cánh cửa cho nông sản Việt vươn xa
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong lĩnh vực nông nghiệp tập trung chuyển đổi mạnh mẽ từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”. Trọng tâm là phát triển nền nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao để tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao đời sống nông dân.
Một trong số các định hướng trọng tâm là phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững: Chuyển đổi cách làm từ số lượng sang chất lượng. Nông nghiệp không chỉ là trồng trọt hay chăn nuôi, mà là tạo ra chuỗi giá trị tích hợp nhiều lợi ích. Do đó, để bảo vệ thành quả xuất khẩu, các chuyên gia và cơ quan quản lý đề xuất mô hình phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp.
Về phía Nhà nước, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm bằng cách tích hợp dữ liệu hải quan quốc tế và thúc đẩy đàm phán để các đối tác sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.
Phía Hiệp hội đóng vai trò kết nối, hỗ trợ thông tin thị trường và điều phối các chiến dịch ứng phó chung của toàn ngành.
Phía doanh nghiệp cần chủ động minh bạch hóa hoạt động sản xuất, quản trị tài chính, tuân thủ quy định về xuất xứ và xây dựng chiến lược ứng phó từ sớm. Đặc biệt, cần chuẩn bị nguồn lực tài chính để theo đuổi các vụ kiện kéo dài và phức tạp, vốn đòi hỏi chi phí thuê luật sư quốc tế rất lớn.
Việc nâng cao năng lực phòng vệ thương mại không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu sống còn để hàng hóa Việt Nam giữ vững vị thế và duy trì đà tăng trưởng bền vững trên bản đồ thương mại toàn cầu.