Nghệ sĩ Việt chuộng tên Tây, hát tiếng Anh: Bản sắc Việt nằm ở đâu trong Vpop?
VOV.VN - Nghệ sĩ Việt ngày càng chuộng nghệ danh, tên ca khúc và lời hát bằng tiếng Anh. Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long cho rằng hội nhập không đồng nghĩa với xóa mờ dấu hiệu nhận diện Việt; càng bước ra thế giới, nghệ sĩ càng cần ý thức rõ mình là ai và bản sắc của mình nằm ở đâu.
Nhiều năm trở lại đây, nghệ danh mang yếu tố nước ngoài ngày càng xuất hiện dày đặc trong đời sống âm nhạc Việt. Từ những cái tên hoàn toàn bằng tiếng Anh như AMEE, MONO, Wren Evans, Orange, Isaac đến cách kết hợp giữa tên Việt và yếu tố ngoại như Noo Phước Thịnh, Ali Hoàng Dương, SOOBIN Hoàng Sơn, Hòa Minzy, việc lựa chọn nghệ danh theo hướng “quốc tế hóa” không còn là hiện tượng cá biệt. Xu hướng này càng rõ ở thế hệ nghệ sĩ trẻ, đặc biệt trong các dòng nhạc Pop, R&B, Rap, Hip-hop.
Gần đây, câu chuyện tiếp tục được bàn luận khi nhóm nhạc nam UPRIZE, bước ra từ chương trình Tân binh toàn năng, giới thiệu nghệ danh tiếng Anh cho các thành viên bên cạnh tên Việt. Trước đó, FIRSTGENE cũng ra mắt với toàn bộ thành viên sử dụng nghệ danh mang âm hưởng nước ngoài. Không chỉ nghệ danh, việc đặt tên ca khúc, album, concert bằng tiếng Anh, thậm chí đưa ngày càng nhiều câu hát hoặc đoạn lời hoàn toàn bằng tiếng Anh vào các sản phẩm âm nhạc cũng trở thành lựa chọn quen thuộc của nhiều nghệ sĩ Việt.
Những người ủng hộ cho rằng một cái tên ngắn gọn, dễ đọc, dễ ghi nhớ có thể giúp nghệ sĩ thuận lợi hơn khi tiếp cận khán giả quốc tế, nhất là trong bối cảnh sản phẩm âm nhạc hiện nay được phát hành đồng thời trên các nền tảng toàn cầu. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, không ít ý kiến đặt câu hỏi: liệu việc chạy theo những cái tên “Tây”, sử dụng ngoại ngữ ngày càng nhiều có khiến dấu hiệu nhận diện Việt Nam trở nên mờ nhạt?
Ranh giới nào giữa hội nhập và chạy theo xu hướng? Bản sắc của một nghệ sĩ, một sản phẩm âm nhạc được quyết định bởi tên gọi, ngôn ngữ hay sâu xa hơn là tư duy sáng tạo và chất liệu văn hóa? VOV.VN đã trao đổi với nhạc sĩ Nguyễn Quang Long, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam, xung quanh câu chuyện này.
Nhìn danh sách nghệ sĩ Việt mà cứ ngỡ của nước ngoài
PV: Việc nghệ sĩ Việt dùng nghệ danh nước ngoài, đặt tên ca khúc, album hay concert bằng tiếng Anh ngày càng phổ biến. Theo anh, đây có phải là biểu hiện tự nhiên của hội nhập văn hóa?
Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Tôi cho rằng trước hết cần nhìn nhận đây là một thực tế đang diễn ra trong âm nhạc đại chúng dành cho giới trẻ và không chỉ riêng Việt Nam. Ở một vài nước châu Á, việc nghệ sĩ sử dụng nghệ danh tiếng Anh, đặt tên ca khúc, album hay concert bằng tiếng Anh cũng khá phổ biến. Trong môi trường âm nhạc hiện nay, khi sản phẩm có thể được đưa lên các nền tảng toàn cầu và tiếp cận khán giả xuyên biên giới, tiếng Anh trở thành một công cụ giao tiếp quốc tế rất tự nhiên.
Vì vậy, tôi không cho rằng cứ sử dụng tiếng Anh là biểu hiện của việc xa rời văn hóa Việt. Vấn đề nằm ở mức độ và mục đích sử dụng.
Tuy nhiên, tôi vẫn mong trong tương lai việc sử dụng nghệ danh nước ngoài hoặc pha trộn quá nhiều tiếng Anh trong cách định danh nghệ sĩ Việt sẽ được tiết chế hơn. Bởi một cái tên không chỉ để gọi, mà còn là một dấu hiệu nhận diện văn hóa. Khi chúng ta bước vào một không gian âm nhạc quốc tế, tên gọi của nghệ sĩ cũng là một cách để định danh Việt Nam trên “bản đồ” âm nhạc khu vực và thế giới.
PV: Trong âm nhạc đại chúng, việc pha trộn ngôn ngữ diễn ra ở nhiều quốc gia. Vậy có cơ sở nào để lo ngại việc dùng nhiều tiếng Anh sẽ làm giảm bản sắc Việt?
Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Tôi nghĩ không nên quá lo lắng theo kiểu cứ có tiếng Anh thì bản sắc Việt sẽ mất đi. Bản sắc văn hóa không mong manh đến mức chỉ vì một vài từ tiếng Anh mà biến mất. Một ca khúc hoàn toàn có thể sử dụng tiếng Anh nhưng vẫn rất Việt Nam nếu trong đó có tư duy âm nhạc, cảm xúc, câu chuyện, chất liệu văn hóa và cách biểu đạt mang căn tính Việt.
Nhưng điều đáng lưu ý là nếu tiếng Anh xuất hiện quá dày đặc trong khi đối tượng chính của nghệ sĩ, sản phẩm vẫn là trong nước mà từ nghệ danh đến tên bài hát, album, concert, lời ca… đến mức một người không phải là khán giả thường xuyên của nhạc trẻ Việt Nam nhìn vào danh sách nghệ sĩ có thể nghĩ rằng đó là danh sách nghệ sĩ nước ngoài, thì rõ ràng cần phải coi đó là một vấn đề.
Tôi từng nghĩ về điều này dưới góc độ căn tính. Căn tính không phải là đóng cửa để bảo vệ mình khỏi ảnh hưởng bên ngoài. Căn tính là khi chúng ta tiếp nhận những ảnh hưởng bên ngoài nhưng vẫn biết mình là ai. Hội nhập càng sâu thì nhu cầu xác định mình là ai, đến từ đâu, càng trở nên quan trọng.
Nghệ danh “Tây” không đồng nghĩa với xa rời văn hóa Việt
PV: Theo anh, bản sắc của một sản phẩm âm nhạc nên được nhìn ở ngôn ngữ sử dụng hay rộng hơn ở nội dung, chất liệu văn hóa và tư duy sáng tạo?
Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Tôi nghiêng rất rõ về quan niệm phải nhìn rộng hơn ngôn ngữ. Một sản phẩm âm nhạc có bản sắc Việt trước hết nằm ở tư duy sáng tạo, nội dung, cảm xúc, chất liệu văn hóa và cách nghệ sĩ xử lý những chất liệu ấy.
Một nghệ sĩ có thể hát bằng tiếng Anh nhưng vẫn tạo ra một sản phẩm rất Việt. Ngược lại, một ca khúc sử dụng hoàn toàn tiếng Việt nhưng nếu tư duy sáng tạo chỉ sao chép máy móc âm nhạc bên ngoài thì chưa chắc đã có nhiều bản sắc.
Tuy nhiên, tiếng Việt vẫn có một vai trò đặc biệt. Ngôn ngữ là một trong những thành tố dễ nhận diện nhất của một nền văn hóa. Vì vậy, tôi cho rằng chúng ta không nên xem nhẹ khả năng biểu đạt và sức hấp dẫn của tiếng Việt trong âm nhạc đương đại.
PV: Có ý kiến cho rằng một bộ phận nghệ sĩ chọn tiếng Anh vì tạo cảm giác trẻ, hiện đại và “quốc tế” hơn. Nếu tâm lý này tồn tại, điều đáng bàn nằm ở việc dùng ngoại ngữ hay ở cách chúng ta nhìn nhận giá trị của tiếng Việt?
Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Nếu có tâm lý đó thì điều đáng bàn không phải là bản thân tiếng Anh, mà là cách chúng ta định nghĩa thế nào là hiện đại và quốc tế.
Có một thời gian, việc sử dụng tên tiếng Anh hoặc pha trộn Anh - Việt cũng từng xuất hiện khá nhiều trong nhạc Việt đại chúng. Khi ấy, cơ quan quản lý văn hóa, nghệ thuật từng có những quan điểm và biện pháp khá rõ nhằm hạn chế việc lạm dụng ngoại ngữ trong nghệ danh, tên tác phẩm cũng như lời ca. Những người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc khoảng trước những năm 2010 chắc hẳn còn nhớ khá rõ bối cảnh này.
Khi muốn phát hành băng đĩa, những sản phẩm có sự pha trộn tiếng Anh quá mức từng gặp không ít trở ngại trong quá trình xét duyệt. Điều đó cho thấy đã từng có một giai đoạn xã hội và cơ quan quản lý thực sự lo ngại trước nguy cơ lạm dụng ngoại ngữ làm ảnh hưởng đến diện mạo tiếng Việt trong đời sống văn hóa.
Ngày nay, môi trường đã hoàn toàn khác. Sự xuất hiện của Internet, mạng xã hội và các nền tảng số đã làm thay đổi căn bản cách âm nhạc được sản xuất, phát hành và tiếp nhận. Nghệ sĩ có thể trực tiếp đưa sản phẩm đến công chúng mà không còn phụ thuộc vào những quy trình phát hành truyền thống như trước.
Tôi cho rằng sự cởi mở hiện nay là cần thiết. Nhưng cùng với sự cởi mở ấy, nghệ sĩ cũng cần có ý thức về giá trị của tiếng Việt. Hiện đại không đồng nghĩa với việc phải nói hoặc viết bằng tiếng Anh. Hội nhập quốc tế thì dấu hiệu nhận diện của mình càng cần coi trọng.
Hội nhập càng sâu, càng cần biết mình là ai
PV: Ranh giới nào giữa việc dùng tiếng Anh có chủ đích nghệ thuật và việc chạy theo xu hướng, dùng cho “thời thượng” dù không thực sự cần thiết?
Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Theo tôi, ranh giới nằm ở chỗ tiếng Anh có thực sự cần thiết đối với ý tưởng nghệ thuật hay không.
Nếu một nghệ sĩ sử dụng tiếng Anh vì muốn tạo một hiệu ứng ngôn ngữ nhất định, vì chủ đề của tác phẩm, vì muốn tiếp cận một thị trường quốc tế cụ thể hoặc vì đó là một phần hữu cơ trong tư duy nghệ thuật của sản phẩm, tôi hoàn toàn ủng hộ.
Nhưng nếu chỉ thêm tiếng Anh để tạo cảm giác “cool”, “trendy”, “international”, trong khi bỏ tiếng Việt đi thì ý nghĩa cũng không thay đổi, khi ấy rất dễ rơi vào việc chạy theo thời trang.
PV: Trong thời đại âm nhạc lưu hành xuyên biên giới, theo anh, nên làm gì để tiếng Việt vẫn có sức hấp dẫn trong sáng tác mà không biến câu chuyện giữ gìn bản sắc thành sự khép kín với những ảnh hưởng bên ngoài?
Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long: Tôi nghĩ không nên đặt vấn đề là “giữ tiếng Việt” bằng cách loại bỏ tiếng Anh hay các ảnh hưởng bên ngoài. Cách làm ấy không phù hợp với đời sống âm nhạc hôm nay.
Điều quan trọng hơn là phải làm sao để nghệ sĩ sáng tạo và người tiếp nhận sản phẩm âm nhạc Việt thấy tiếng Việt đủ đẹp, đủ giàu và đủ hấp dẫn để nghệ sĩ muốn sáng tạo bằng tiếng Việt. Khi những ca khúc tiếng Việt có tư duy hiện đại, cách viết ca từ mới mẻ, âm nhạc tiên tiến và có khả năng bước ra khỏi biên giới khán giả sẽ tiếp nhận.
Nhìn sang Hàn Quốc, chúng ta có thể thấy một điều khá thú vị: K-pop đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, nghệ sĩ Hàn Quốc sử dụng rất nhiều yếu tố quốc tế, nhưng những nghệ danh và dấu hiệu nhận diện mang bản sắc Hàn vẫn hiện diện rất mạnh. Với cộng đồng nghệ sĩ gốc Hoa cũng vậy, dù nghệ danh tiếng Anh hoặc sự pha trộn có thể phổ biến hơn, tên tiếng Trung vẫn giữ một vị trí rất đáng kể.
Tôi nghĩ Việt Nam cũng có thể đi theo tinh thần đó: mở cửa nhưng không hòa tan, tiếp nhận cái mới nhưng không đánh mất khả năng tự nhận diện mình.
Và ở đây tôi muốn nhấn mạnh khái niệm căn tính Việt. Căn tính không phải là một bộ quần áo truyền thống mà chúng ta mặc lên để chứng minh mình là người Việt. Nó nằm sâu hơn, trong cách chúng ta nhìn thế giới, kể câu chuyện của mình, sử dụng ngôn ngữ và biến những chất liệu văn hóa Việt thành một sản phẩm có giá trị đương đại.
Nếu một ngày âm nhạc Việt Nam bước ra thế giới với những nghệ sĩ có tên Việt, hát tiếng Việt nhưng âm nhạc đủ hiện đại để khán giả quốc tế muốn nghe, hoặc hát bằng tiếng Anh nhưng thể hiện căn tính Việt, thì đó mới là một hình thức hội nhập tự tin. Khi ấy, chúng ta không cần phải cố gắng “quốc tế hóa” mình bằng cách xóa đi những dấu hiệu nhận diện Việt Nam; chính những dấu hiệu ấy lại trở thành giá trị giúp chúng ta được nhận ra giữa một thế giới âm nhạc ngày càng phẳng.
PV: Xin cảm ơn anh!