Khi người Việt vẫn nhận mình bằng tên làng
VOV.VN - Có những đường ranh trên bản đồ có thể thay đổi theo thời gian nhưng có những cái tên vẫn sống rất lâu trong ký ức con người. Với nhiều người Việt, đó là tên của một ngôi làng - nơi bắt đầu của quê hương, của bản sắc và của cảm giác thuộc về.
Có một câu hỏi rất giản dị. Nếu gặp một người Việt ở một nơi rất xa quê và hỏi: "Anh quê ở đâu?", họ sẽ trả lời thế nào?
Rất nhiều người sẽ không nói tên tỉnh trước tiên, cũng không phải huyện mà họ nói: "Tôi người Đường Lâm"; "Tôi người Bát Tràng"; "Tôi người Vòng"; "Tôi người Nôm" hay "Tôi người Cự Đà"…
Điều đó diễn ra tự nhiên đến mức ít ai để ý. Bởi trong tâm thức người Việt, quê hương hiếm khi bắt đầu bằng một cấp hành chính, quê hương thường bắt đầu bằng tên của một ngôi làng.
Có lẽ vì thế mà khi câu chuyện sắp xếp thôn, tổ dân phố được đặt ra ở nhiều địa phương, điều khiến không ít người suy nghĩ không chỉ là địa giới sẽ thay đổi như thế nào. Điều họ nghĩ đến là một câu hỏi rất khác. Nếu một ngày những cái tên đã đi cùng bao thế hệ không còn hiện diện như trước, liệu cảm giác thuộc về sẽ được giữ lại bằng cách nào?. Đó không phải là câu chuyện của vài dòng chữ trên giấy tờ mà là câu chuyện của ký ức.
Con người luôn có khả năng thích nghi. Một tỉnh đổi tên, rồi cũng quen; một huyện sáp nhập, rồi đời sống vẫn tiếp tục bình thường. Lịch sử Việt Nam đã nhiều lần chứng kiến những thay đổi về địa giới và tổ chức bộ máy. Mỗi giai đoạn phát triển đều có những yêu cầu mới của quản trị. Nhưng văn hóa luôn có nhịp đi chậm hơn hành chính. Một quyết định có thể có hiệu lực từ ngày hôm sau còn một cảm thức cộng đồng đôi khi phải mất hàng trăm năm mới hình thành.
Người Việt không yêu một ngôi làng vì những đường ranh trên bản đồ mà người Việt yêu ngôi làng của mình vì ở đó có ký ức. Đó là nơi người ta biết cha mình là con của ai, ông nội mình từng sống ở đâu, dòng họ mình bắt đầu từ ngôi nhà nào. Đó là nơi có ngôi đình mà chỉ cần nghe tiếng trống lễ hội cũng biết mùa xuân đã về. Là nơi có cây đa đứng đó từ khi ông bà còn nhỏ, là con đường mà mỗi viên gạch đều in dấu chân của nhiều thế hệ, là nghĩa trang nơi tổ tiên nằm lại, là mái nhà mà dù đi bao xa, người ta vẫn gọi là "về".
Ngày xưa, làng gần như là cả thế giới của một con người. Ở đó có đình, chùa, miếu mạo, có Thành hoàng, có hương ước, có chợ, có trường học, có những quy ước mà không cần viết thành luật nhưng ai cũng hiểu phải sống với nhau như thế nào.
Một đứa trẻ lớn lên không chỉ trong vòng tay cha mẹ mà còn trong sự dạy dỗ của cả cộng đồng. Một người làm điều tốt, cả làng tự hào hay một người làm điều chưa phải, điều họ sợ không chỉ là mang tiếng với gia đình mà còn là "mất mặt với làng". Chính sự gắn kết ấy đã tạo nên cái mà người Việt vẫn gọi là "tình làng, nghĩa xóm".
Nhà sử học Dương Trung Quốc từng nhận xét rằng mỗi lần điều chỉnh địa giới hành chính đều là một việc hệ trọng, bởi nó không chỉ tác động đến hiện tại và tương lai mà còn chạm tới quá khứ. Theo ông, trong xã hội truyền thống, huyện hay phủ chủ yếu là cấp quản lý, còn đời sống của người dân diễn ra trong không gian làng xã. Bộ máy có thể thay đổi theo từng thời kỳ, nhưng làng vẫn giữ được cốt cách bằng tập quán, bằng hương ước và bằng sự tự điều chỉnh của cộng đồng.
Có lẽ vì thế mà nhiều người nhớ tên làng rõ hơn tên của những đơn vị hành chính từng tồn tại trong lịch sử. Những cái tên ấy trở thành ký ức văn hóa, chỉ cần nhắc đến, người ta nhớ ngay một nghề truyền thống, một mái đình, một không gian sống, một giọng nói quê hương.
Tên làng giống như một chiếc chìa khóa, chỉ cần gọi đúng cái tên ấy, cả một miền ký ức sẽ mở ra.
Nhà văn Hà Nguyên Huyến, người nhiều năm gắn bó với Làng cổ Đường Lâm, cho rằng người dân hiểu việc thay đổi đơn vị hành chính là yêu cầu của sự phát triển. "Cốt lõi thì không thay đổi, làng lụa vẫn là làng lụa, Đường Lâm thì vẫn là Đường Lâm". Điều ông muốn giữ có lẽ không phải là một ranh giới mà là hồn cốt.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, với người dân, làng không chỉ là một đơn vị cư trú mà còn là nơi lưu giữ đình, chùa, miếu, cây đa, bến nước, gia phả, lễ hội, ký ức tổ tiên và những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác. Điều khiến nhiều người băn khoăn khi nói đến việc sắp xếp không chỉ là sự thay đổi địa giới, mà còn là nỗi lo cảm giác thuộc về sẽ dần mờ đi nếu những giá trị tinh thần gắn với cộng đồng không còn được gìn giữ.
Đó có lẽ cũng là điều đáng suy ngẫm nhất. Một cộng đồng có thể được mở rộng bằng một quyết định hành chính nhưng để trở thành quê hương trong tâm thức con người, nó cần rất nhiều thời gian.
Ngày xưa, mỗi ngôi làng giống như một vòng tròn ký ức. Trong vòng tròn ấy, người ta biết nhau bằng tên họ, bằng vai vế, bằng những mùa lễ hội, bằng tiếng trống đình, bằng những lần cùng dựng rạp đám cưới hay chung tay lo một đám tang. Mọi mối quan hệ đều được bồi đắp qua thời gian. Khi những vòng tròn ấy gặp nhau để tạo thành một không gian rộng lớn hơn, đó là bước đi tự nhiên của quá trình phát triển. Không gian có thể rộng hơn, sự kết nối có thể thuận lợi hơn, nguồn lực có thể được chia sẻ hiệu quả hơn nhưng sự rộng lớn của không gian không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với sự gần gũi của cảm xúc.
Thế giới hôm nay được vận hành bằng dữ liệu, địa chỉ được chuẩn hóa thành những dòng thông tin, bản đồ được số hóa thành những lớp tọa độ, con người được nhận diện bằng mã định danh. Mọi thứ đều hướng đến sự chính xác và thuận tiện của quản trị hiện đại. Nhưng có một thứ chưa bao giờ được lưu giữ trọn vẹn trong những cơ sở dữ liệu, đó là ký ức. Không một mã số nào có thể thay thế cảm giác của một người con xa quê khi nghe ai đó nhắc đến tên làng mình.
Có thể mai này địa giới hành chính vẫn tiếp tục thay đổi để phù hợp với yêu cầu phát triển. Những đường ranh trên bản đồ sẽ được vẽ lại, không gian có thể rộng hơn nhưng nếu ký ức không còn một nơi để neo đậu, con người đôi khi sẽ thấy mình lạc lõng hơn.
Có lẽ vì thế mà quê hương trong tâm thức người Việt không bắt đầu từ những đường ranh trên bản đồ. Quê hương bắt đầu từ tên của một ngôi làng.