Chuyện người tù Côn Đảo luôn giữ trọn niềm tin với Bác
VOV.VN - Cuộc đời người cựu tù ở quê hương “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” này như lát cắt chân thực về ý chí kiên cường, bất khuất của những chiến sĩ cách mạng từng bị giam cầm trong hệ thống nhà tù khốc liệt nhất ở Đông Dương.
Hơn 50 năm sau ngày thống nhất đất nước, tại đặc khu Côn Đảo (Thành phố Hồ Chí Minh), hiện còn duy nhất một cựu tù chính trị sinh sống, đó là ông Nguyễn Xuân Viên. Cuộc đời người cựu tù ở quê hương “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” này như lát cắt chân thực về ý chí kiên cường, bất khuất của những chiến sĩ cách mạng từng bị giam cầm trong hệ thống nhà tù khốc liệt nhất ở Đông Dương.
Ký ức “chuồng cọp” và bản lĩnh người chiến sĩ cách mạng
Côn Đảo từng được biết đến như một “địa ngục trần gian”. Thời chiến tranh, thực dân, đế quốc dựng lên hệ thống lao tù khét tiếng để đàn áp phong trào cách mạng, những người cộng sản yêu nước. Nhưng chính trong bóng tối ngục tù ấy, ý chí và khí phách của người cách mạng lại được tôi luyện mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Nơi miền đất từng thấm máu và nước mắt này, ông Nguyễn Xuân Viên vẫn lặng lẽ sống như một nhân chứng cuối cùng của ngục tù Côn Đảo.
Ông Nguyễn Xuân Viên năm nay đã ngoài 80 tuổi, thương binh hạng 4/4. Dáng người gầy nhỏ, giọng nói hụt hơi bởi di chứng của những đòn tra tấn năm xưa, nhưng ánh mắt người cựu tù vẫn ánh lên vẻ cương nghị của người từng đi qua những năm tháng khắc nghiệt nhất, cận kề cái chết mà không khuất phục.
Ông tên thật là Lê Xuân Viên, quê ở xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (cũ), nay thuộc thành phố Đà Nẵng. Ông tham gia cách mạng từ đầu năm 1965, hoạt động du kích tại địa phương. Một lần trong trận phục kích năm 1968 bị bại lộ và ông bị địch bắt đưa xuống căn cứ Núi Quế. Ở đây toàn lính Mỹ, chúng tra tấn ông nhưng không hiểu ông nói gì, 10 ngày sau chúng đưa ông xuống đồn Cảnh sát Quốc gia huyện Quế Sơn tra khảo. Sau đó, chúng giam cầm ông ở Lao xá Hội An và hàng loạt nhà giam ở Quảng Nam - Đà Nẵng, 1 năm sau đưa về Nhà lao Tân Hiệp (ở Biên Hòa), rồi chuyển ông về lao Khám lớn (ở Chí Hòa). Chừng ấy thời gian ông bị tra tấn bằng tất cả các cực hình, kể cả những thủ đoạn dụ dỗ nhưng ông không hề khuất phục. Năm 1970, ông bị đày ra Côn Đảo cùng với ông Châu Văn Mẫn (sau này là Trung tướng, Anh hùng LLVT Nhân dân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND); ông Trịnh Văn Lâu (tên thường dùng Tư Cẩn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy lâm thời); ông Nguyễn Đình Tham (nguyên Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 489, Đặc công Đà Nẵng)... Những người tù năm xưa đã biến nhà lao thành trường học cách mạng, giữ vững khí tiết trong tận cùng tra tấn.
Ký ức về “chuồng cọp” vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí người cựu tù. Ông chậm rãi kể: “Ở trong “chuồng cọp”, mỗi lần nghe tiếng mở cửa lại tưởng được cho ra tắm nắng. Chúng hỏi hôm nay ngày mấy. Nhớ thì chúng đánh, không nhớ cũng đánh. Mình bị nhốt riết trong đó, có biết mặt trăng, mặt trời là chi nữa đâu…”.
Những buồng giam chỉ rộng khoảng 1,5m x 2,7m, nhốt từ 5 đến 12 người. Không giường ngủ, tù nhân bị cùm chân vào thanh sắt. Ăn uống, vệ sinh đều ngay tại chỗ. Ngày nắng, cai ngục hắt nước vôi, phơi người tù giữa trời bỏng rát cho máu mũi, máu miệng trào ra; da, môi khô nứt nẻ, tứa máu. Ngày mưa, họ bị ngâm trong các khu biệt lập lạnh buốt. Có người bị đưa đi giữa đêm rồi mãi mãi không trở lại.
Sau đó là những trận đòn thừa sống thiếu chết. Từng người bị bẻ quặt tay, ném lên xe thùng đưa vào “chuồng cọp”. Có phòng giam 10 người thì 7 người chết sau tra tấn. Ông Viên nhớ lại, ánh mắt trầm xuống: “Chi bộ Lưu Chí Hiếu tụi tui cứng đầu lắm. Không chào cờ, không hát quốc ca của chúng nó. Chúng đánh dữ lắm nhưng anh em quyết không khuất phục”.
Giữ trọn niềm tin với Bác
Trong ký vô vàn đau đớn, ông Viên nhớ nhất là mỗi lần vào dịp sinh nhật Bác Hồ. Trong tù, anh em bí mật treo khẩu hiệu, tổ chức văn nghệ, diễn kịch. Cai ngục kéo đến đàn áp. Những người tù gầy guộc vẫn giữ chặt cửa buồng giam, quyết không cho lính xông vào. “Chúng nó nói: “Yêu cầu các anh dỡ xuống”. Anh em trả lời: “Đây là chỗ của tụi tui, không phải chỗ các ông”.
“Trong tim và huyết quản của chúng tôi lúc đó chỉ có Đảng và Bác Hồ. Và chính niềm tin mãnh liệt ấy giúp chúng tôi cầm cự hết đợt tra tấn này đến kiểu nhục hình dã man khác của bọn địch, mới giành được sự sống nơi “địa ngục trần gian” - ông Viên tâm sự.
Ông Viên kể lại: “Khi đảo Côn Sơn (Côn Đảo) được giải phóng, thuộc về chính quyền cách mạng, chiều ngày 2/5/1975, lúc liên lạc được với đất liền, chúng tôi được Thành ủy Sài Gòn - Gia Định hỏi cần những nhu cầu cấp thiết gì để đất liền đưa ra. Không ai bảo ai, tất cả đều xúc động nghẹn ngào thốt lên trong nước mắt: “Chúng tôi chỉ cần một số cờ Tổ quốc, cờ Đảng và ảnh Bác thôi”. Nghe những lời ấy, người bên này, người bên kia đầu dây, đều khóc”.
Điều kỳ diệu là sau tất cả những năm tháng “chết đi sống lại” trong chuồng cọp; một chân chỉ còn 3 ngón vì bị địch chích điện đến hoại tử; năm tháng đói ăn, thừa đòn tra tấn dã man; bệnh suy tim, suy thận, thiếu máu, khiến sức khỏe giảm 70%, nhưng ông Viên vẫn sống thanh thản giữa đời thường, bên con cháu trên chính hòn đảo từng giam cầm mình.
Khi ông Viên kể chuyện, nhiều lúc bà Nguyễn Thị Tư - người vợ tảo tần ngồi bên cạnh - phải “phiên dịch” để khách hiểu rõ hơn. Bà Tư cũng là người cùng quê Quế Sơn. Gia đình bà có truyền thống cách mạng, cha và 2 anh trai đều hy sinh trong kháng chiến. Mẹ bà là Dương Thị Thích được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nhớ lại lần đầu gặp lại ông Viên sau ngày giải phóng, bà xúc động: “Hồi đó, ổng về quê, nhìn khác quá nên tui hỏi: “Anh có phải anh Viên không?”. Ổng nói: ‘‘Ừ, anh Viên đây”. Sau rồi mẹ ổng qua xin cưới tui về làm dâu”.
Năm 1976, họ nên duyên vợ chồng. Tưởng rằng người cựu tù sẽ ở lại quê hương sau bao năm lưu đày. Nhưng rồi nhà nước khuyến khích những người tù chính trị ở lại giữ đảo, phòng địch tái chiếm. Sau 1 tháng về quê, như một sự thôi thúc đặc biệt, ông quyết định quay lại Côn Đảo công tác trong ngành thông tin - văn hóa, sau này làm Phó Trưởng ban Quản lý di tích Côn Đảo. Năm 1981, bà Tư theo chồng ra đảo sinh sống cho đến nay. “Lúc mới ra đây cực lắm. Không có điện, nhà cửa tạm bợ, khung cảnh buồn hiu. Chồng bị bệnh, sức khỏe yếu, con thơ dại. Khó khăn thiếu thốn trăm bề. Nhưng riết rồi quen, giờ thành quê hương luôn” - bà Tư cười hiền.
Từ mảnh đất từng chứng kiến bao nhục hình và máu đổ, vợ chồng ông bà dựng xây cuộc sống mới. Họ có 3 người con, 6 cháu nội ngoại. Người con trai đầu là Bác sĩ Chuyên khoa II Lê Công Thọ - Giám đốc Trung tâm Y tế Quân dân y Đặc khu Côn Đảo; con gái công tác tại Vườn quốc gia Côn Đảo. Gia đình 3 thế hệ giờ đã gắn bó với hòn đảo này như máu thịt.
Hôm nay ở Côn Đảo, điện lưới quốc gia đã phủ khắp. Những con đường nhựa phẳng lì chạy giữa màu xanh núi rừng và biển trời, có cảng biển, sân bay. Du khách tìm đến ngày một đông, để khám phá vẻ đẹp thiên nhiên, để thắp nén nhang ở Nghĩa trang Hàng Dương, để lặng người trước hệ thống “chuồng cọp” còn lưu dấu. Từ “địa ngục trần gian”, Côn Đảo đã hồi sinh thành miền đất thanh bình, trù phú. Nhưng sau vẻ đẹp ấy là lớp lớp máu xương của những người đã ngã xuống. Những ký ức của người tù chính trị cuối cùng còn sống trên Côn Đảo như ông Nguyễn Xuân Viên được nhắc lại như một thời dân tộc đi qua lửa đạn; khí phách của một thế hệ kiên trung, vì nước vì dân, soi sáng cho hôm nay và mai sau.