ĐBQH: Đề nghị làm rõ trách nhiệm quản lý biển của Trung ương và địa phương

VOV.VN - Từ hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác tài nguyên đến bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế người dân, đại biểu Quốc hội cho rằng dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần thể hiện rõ quan điểm phát triển kinh tế biển bền vững, hài hòa giữa lợi ích kinh tế, bảo tồn thiên nhiên và quyền lợi cộng đồng.

Thống nhất cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, ưu tiên tái sử dụng chất nạo vét

Thảo luận tại hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao nỗ lực tiếp thu, chỉnh lý của cơ quan soạn thảo, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện nhiều quy định nhằm tháo gỡ vướng mắc trong quản lý, sử dụng không gian biển, kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm sinh kế cho người dân. 

Góp ý dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng, ghi nhận cơ quan soạn thảo đã tiếp thu hợp lý nhiều nội dung, nhất là về quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Từ thực tiễn phát triển cảng biển, logistics và dịch vụ ven biển tại Hải Phòng, đại biểu tập trung vào hai nhóm vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Đối với cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, đại biểu cho rằng phần đất và phần biển thường gắn bó chặt chẽ trong cùng một dự án. Nếu phải thực hiện các quy trình lựa chọn riêng biệt, thời gian chuẩn bị đầu tư có thể kéo dài, thậm chí phát sinh tình trạng nhà đầu tư được lựa chọn đối với phần đất nhưng chưa có cơ sở triển khai phần khu vực biển hoặc ngược lại.

Vì vậy, đại biểu đồng tình với quy định lựa chọn nhà đầu tư thống nhất cho toàn bộ dự án, song đề nghị làm rõ tiêu chí phân định giữa hai phương thức. Việc xác định cơ chế lựa chọn cần căn cứ vào tính chất, mục tiêu và cơ cấu sử dụng đất, biển của dự án; đồng thời làm rõ cơ quan quyết định, trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ tài chính. Phạm vi, mục đích sử dụng đất và biển phải được xác định trước khi lựa chọn nhà đầu tư, tránh việc điều chỉnh sau đó làm phát sinh lợi ích ngoài phạm vi đã công bố cạnh tranh.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị cụ thể hóa cơ chế một đầu mối, một cửa liên thông, phân tầng thủ tục theo quy mô, tính chất và mức độ rủi ro. Những nội dung đã được thẩm định và còn phù hợp cần được kế thừa, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải giải trình nhiều lần cùng một vấn đề.

Một nội dung đáng chú ý khác là ưu tiên tái sử dụng chất nạo vét và kiểm soát môi trường trong hoạt động nhận chìm ở biển. Theo đại biểu, hoạt động nạo vét, duy tu luồng có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng tiếp nhận tàu và hiệu quả khai thác cảng. Chất nạo vét nếu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, môi trường có thể được tận dụng làm vật liệu san lấp, vừa giảm nhu cầu khai thác vật liệu mới, vừa hạn chế lượng chất phải nhận chìm xuống biển.

Đại biểu chỉ ra sự chưa thống nhất về ưu tiên tái chế, sử dụng chất nạo vét vào mục đích có ích về việc cấm sử dụng vật, chất đã được cấp phép nhận chìm làm vật liệu xây dựng, san lấp hoặc mục đích khác. Do đó, cần quy định rõ cơ chế chuyển từ phương án nhận chìm sang phương án sử dụng có ích khi phát sinh điều kiện phù hợp, thông qua điều chỉnh hoặc trả lại giấy phép và hoàn thành các yêu cầu pháp luật tương ứng.

Đại biểu cũng đề nghị việc tích hợp thẩm định đánh giá tác động môi trường vào thủ tục cấp phép nhận chìm phải bảo đảm yêu cầu tham vấn, năng lực thẩm định và giám sát; đánh giá đầy đủ cả khu vực nạo vét, nơi nhận chìm và tác động tích lũy khi nhiều hoạt động cùng diễn ra trong một vùng biển.

Bảo đảm quyền tiếp cận biển và sinh kế cộng đồng

Cùng quan tâm đến tính bền vững trong quản lý không gian biển, đại biểu Lê Hữu Trí, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh dự án luật có ý nghĩa chiến lược, không chỉ hoàn thiện thể chế quản lý biển mà còn tạo nền tảng phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ chủ quyền, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm sinh kế lâu dài cho nhân dân.

Theo đại biểu, biển không chỉ là không gian phát triển kinh tế mà còn là không gian sinh tồn của cộng đồng dân cư ven biển. Vì vậy, luật cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia với quyền lợi chính đáng của người dân, giữa phát triển trước mắt và trách nhiệm đối với tương lai.

Đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế điều phối, trách nhiệm quản lý không gian biển giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã; xác định cụ thể cơ quan đầu mối, thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với những vấn đề liên ngành, liên vùng. Việc phân cấp phải đi đôi với nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát, tránh phát sinh thêm tầng nấc hành chính.

Đặc biệt, quyền tiếp cận biển của người dân cần được bảo đảm bằng cơ chế thực thi cụ thể. Các dự án ven biển, lấn biển và xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi tắm công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng. Không thể để quyền tiếp cận hợp pháp của người dân phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư. Việc công khai quy hoạch, tham vấn cộng đồng thực chất và xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng không gian biển công cộng cần được chú trọng ngay từ khâu chuẩn bị dự án.

Đối với phân bổ, sử dụng và chuyển mục đích sử dụng khu vực biển, đại biểu cho rằng cần có phương pháp đánh giá đa tiêu chí, công khai hồ sơ và trách nhiệm giải trình khi lựa chọn phương án. Đấu giá quyền sử dụng khu vực biển phải thực chất, minh bạch, tránh đầu cơ, giữ chỗ hoặc trục lợi từ tài nguyên. Giá trị kinh tế không thể là căn cứ duy nhất để phân bổ không gian biển mà phải tính đến môi trường, sinh kế người dân, quốc phòng, an ninh và khả năng phục hồi hệ sinh thái.

Đại biểu cũng đề nghị chuyển mạnh từ tư duy xử lý sang phòng ngừa ô nhiễm ngay từ đầu; xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo liên tục, kết nối dữ liệu giữa trung ương và địa phương. Đối với cộng đồng bị ảnh hưởng bởi các dự án kinh tế biển hoặc việc hình thành khu bảo tồn, cần có cơ chế đánh giá tác động, hỗ trợ chuyển đổi nghề, đào tạo kỹ năng, tạo việc làm mới và bảo đảm người dân được tham gia, hưởng lợi hợp lý từ hoạt động phát triển kinh tế biển.

Chủ động ứng phó biến đổi môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển

Từ góc độ bảo tồn đa dạng sinh học và nghiên cứu khoa học biển, đại biểu Nguyễn Văn Ngọc, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, đề xuất bổ sung những cơ chế mới nhằm chủ động ứng phó với các nguy cơ môi trường đang ngày càng rõ nét.

Đề cập tình trạng nắng nóng biển và tẩy trắng san hô, đại biểu dẫn thực tế năm 2024, thế giới ghi nhận đợt tẩy trắng san hô toàn cầu lần thứ tư, ảnh hưởng tới khoảng 84% diện tích san hô. Tại Việt Nam, tháng 6/2024, nhiệt độ nước biển ở Côn Đảo lên tới 32 độ C, gần 100% san hô phía Đông đảo bị tẩy trắng; đến tháng 10, san hô cành gần như chết hết.

Theo đại biểu, dự thảo luật chưa đề cập trực tiếp đến nắng nóng biển, tẩy trắng san hô, trong khi các quy định về ứng phó sự cố môi trường chủ yếu hướng đến những sự cố có chủ thể gây ra như tràn dầu, hóa chất. Đại biểu kiến nghị bổ sung nắng nóng biển, tẩy trắng san hô diện rộng và hiện tượng sinh vật biển chết hàng loạt vào nhóm sự cố cần được cảnh báo, ứng phó; đồng thời trao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh áp dụng biện pháp khẩn cấp có thời hạn như tạm dừng khai thác, nạo vét tại khu vực rạn san hô bị ảnh hưởng. Điều 14 cũng cần yêu cầu quan trắc, cảnh báo nhiệt độ nước biển đối với các hệ sinh thái nhạy cảm.

Về bảo tồn hiệu quả, đại biểu cho rằng cần có cơ chế công nhận những khu vực do cộng đồng tham gia bảo vệ. Thực tế tại Phú Quý, thảm cỏ biển suy thoái từ 3-5% mỗi năm; tại Hòn Cau, người dân tích cực tuần tra, bảo vệ các ổ trứng rùa biển. Những cộng đồng đang trực tiếp gìn giữ môi trường biển cần được xác lập danh phận pháp lý, được tham gia đồng quản lý. Đại biểu kiến nghị giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh công nhận các khu vực này sau khi lấy ý kiến cộng đồng và cập nhật vào quy hoạch tỉnh.

Một vấn đề mới khác được đại biểu đặt ra là quản lý dữ liệu gen từ hoạt động nghiên cứu khoa học của nước ngoài. Theo đại biểu, dữ liệu trình tự kỹ thuật số của nguồn gen biển có thể được khai thác thương mại mà không cần tiếp cận mẫu vật ban đầu. Vì vậy, quy định quản lý không nên chỉ dừng ở việc nộp mẫu vật hoặc dữ liệu có thể sao lại. Đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu nộp thông tin trình tự kỹ thuật số, lưu giữ trong nước ít nhất một mẫu chuẩn đối với loài mới và bảo đảm việc sử dụng nguồn gen tuân thủ pháp luật về tiếp cận nguồn gen.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo – thể chế hóa Nghị quyết 20
Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo – thể chế hóa Nghị quyết 20

VOV.VN - Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 chính là bước thể chế hóa quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 20 về xây dựng quốc gia biển mạnh, từ đó khơi thông nguồn lực kinh tế từ biển.

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo – thể chế hóa Nghị quyết 20

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo – thể chế hóa Nghị quyết 20

VOV.VN - Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 chính là bước thể chế hóa quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 20 về xây dựng quốc gia biển mạnh, từ đó khơi thông nguồn lực kinh tế từ biển.

Sửa Luật TNMT biển và hải đảo: Bảo đảm quyền tiếp cận cho ngư dân
Sửa Luật TNMT biển và hải đảo: Bảo đảm quyền tiếp cận cho ngư dân

VOV.VN - Chiều 28/9, tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ nhất, nhiệm kỳ khóa XVI, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng về Dự án Luật Tài nguyên, môi trường (TNMT) biển và hải đảo (sửa đổi).

Sửa Luật TNMT biển và hải đảo: Bảo đảm quyền tiếp cận cho ngư dân

Sửa Luật TNMT biển và hải đảo: Bảo đảm quyền tiếp cận cho ngư dân

VOV.VN - Chiều 28/9, tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ nhất, nhiệm kỳ khóa XVI, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng về Dự án Luật Tài nguyên, môi trường (TNMT) biển và hải đảo (sửa đổi).