Gỡ điểm nghẽn cơ chế để đẩy nhanh các tuyến cao tốc liên vùng
VOV.VN - Bộ Xây dựng kiến nghị đầu tư nhiều tuyến cao tốc nhằm hoàn thiện trục dọc, ngang và hành lang Đông – Tây trước 2030. Trong khi nhu cầu vốn vượt khả năng cân đối ngân sách, thách thức không chỉ ở lựa chọn dự án ưu tiên, mà còn ở cơ chế triển khai, phương án xử lý phần vốn thiếu và trách nhiệm của từng cấp.
Nhu cầu vốn lớn, cần chọn đúng dự án ưu tiên
Theo Tờ trình số 834/TTr-BTC, trong hơn 790.197 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương chưa được dự kiến phân bổ chi tiết, Bộ Tài chính đề xuất dành 154.000 tỷ đồng hỗ trợ các dự án trọng điểm, liên vùng tại 22 địa phương.
Tổng nhu cầu vốn ngân sách trung ương do các địa phương đăng ký là 322.206 tỷ đồng. Theo công thức tính toán được đề xuất, mức hỗ trợ dự kiến là 151.350 tỷ đồng, tối đa 10.000 tỷ đồng mỗi địa phương. Đây mới là phương án trình Chính phủ xem xét, chưa phải quyết định phân bổ vốn chính thức. Khoản hỗ trợ dự kiến cũng không được xác định riêng cho 12 tuyến cao tốc mà Bộ Xây dựng kiến nghị nghiên cứu đầu tư trước năm 2030.
Danh mục đề xuất tập trung vào các trục giao thông dọc, ngang và hành lang Đông – Tây, trong đó có cao tốc Nha Trang – Liên Khương (CT.25), tuyến Phú Yên – Đắk Lắk, các đoạn Pleiku – Buôn Ma Thuột – Gia Nghĩa thuộc cao tốc Bắc – Nam phía Tây; mở rộng các đoạn Quảng Ngãi – Dầu Giây và Mỹ Thuận – Cần Thơ thuộc cao tốc Bắc – Nam phía Đông; tuyến cao tốc TP.HCM – Tiền Giang – Bến Tre – Trà Vinh – Sóc Trăng – Cà Mau, đoạn qua tỉnh Vĩnh Long và TP Cần Thơ (CT.33).
Theo số liệu sơ bộ, 12 dự án có tổng mức đầu tư khoảng 514.910 tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 – 2030 khoảng 334.570 tỷ đồng. Đây là nhu cầu đề xuất phục vụ nghiên cứu và cân đối nguồn lực, chưa phải số vốn đã được cấp có thẩm quyền quyết định phân bổ.
Quy mô nhu cầu vốn cho thấy việc triển khai đồng loạt các dự án sẽ tạo áp lực đáng kể đối với ngân sách. Vì vậy, lựa chọn dự án cần dựa trên vai trò kết nối của từng tuyến, mức độ cấp thiết, khả năng hoàn thành và hiệu quả khai thác trong tổng thể mạng lưới, thay vì chỉ căn cứ vào nhu cầu đăng ký của từng địa phương.
Kết luận số 18-KL/TW do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư công, tập trung nguồn lực vào các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, có sức lan tỏa và các dự án liên vùng. Kết luận đặt mục tiêu giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn 2021 – 2025, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm chủ động của địa phương trong quyết định đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối nguồn lực, với tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Đối với mạng lưới cao tốc, yêu cầu đặt ra là phải xem xét từng tuyến trong tổng thể kết nối, xác định rõ tuyến cần ưu tiên, đoạn có thể triển khai trước và trình tự đầu tư phù hợp với nguồn lực. Cách tiếp cận này giúp hạn chế đầu tư dàn trải, đồng thời giảm nguy cơ dự án kéo dài do thiếu sự đồng bộ giữa các khâu chuẩn bị, bố trí vốn và tổ chức thực hiện.
Từ phân bổ vốn sang cơ chế triển khai
Thời gian qua, nhiều địa phương đã chủ động nghiên cứu, chuẩn bị dự án giao thông liên vùng, tính toán khả năng tham gia vốn ngân sách địa phương, tìm kiếm nhà đầu tư và nghiên cứu phương thức đối tác công tư (PPP).
Tuy nhiên, với các dự án có tổng mức đầu tư lớn, phạm vi kết nối vượt địa giới hành chính và nhu cầu vốn vượt khả năng cân đối của một tỉnh, sự chủ động của địa phương dù cần thiết vẫn chưa đủ. Những dự án này đòi hỏi vai trò điều phối, hỗ trợ và quyết định cơ chế từ Trung ương, nhất là trong xử lý các vấn đề liên quan đến nhiều địa phương và nguồn vốn vượt thẩm quyền cấp tỉnh.
Trách nhiệm chủ động của địa phương vì vậy cần đi cùng cơ chế phối hợp, hỗ trợ rõ ràng từ Trung ương. Nếu chỉ giao nhiệm vụ và yêu cầu các tỉnh tự cân đối nguồn lực, nhiều dự án có thể gặp khó ngay từ khâu chuẩn bị, chưa kể các vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng và tổ chức huy động vốn.
Khi ngân sách trung ương chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, việc các địa phương đăng ký vốn rồi chờ phân bổ sẽ khó đưa dự án đến gần hơn với khả năng triển khai thực tế. Tuy nhiên, tập trung vốn cũng không đồng nghĩa với việc mọi dự án đều phải chờ đủ kinh phí cho toàn tuyến mới có thể bắt đầu.
Điều quan trọng là xây dựng lộ trình đầu tư có cơ sở, xác định thứ tự ưu tiên, hoàn thiện thủ tục, bố trí vốn theo tiến độ và làm rõ phương án xử lý phần vốn còn thiếu. Việc phân kỳ đầu tư cần bảo đảm mỗi giai đoạn tạo ra khối lượng thực chất, kết nối đồng bộ với các tuyến liên quan và không để hình thành những đoạn đường dở dang, khó khai thác.
Điểm khởi đầu là chuyển từ danh mục nhu cầu sang danh mục dự án có khả năng triển khai. Hồ sơ đề xuất cần làm rõ vai trò kết nối của dự án trong quy hoạch, phạm vi và quy mô đầu tư, mức độ sẵn sàng, nhu cầu vốn theo từng giai đoạn, khả năng cân đối ngân sách địa phương, phần vốn đề nghị Trung ương hỗ trợ và phần còn thiếu.
Với những dự án có nhu cầu vốn vượt kế hoạch đầu tư công trung hạn, phương án triển khai phải xác định cụ thể thời điểm cần vốn, nguồn dự kiến bổ sung và cơ quan có thẩm quyền quyết định. Các nguồn như tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi, dự phòng ngân sách hay trái phiếu Chính phủ chỉ có thể được tính đến khi đáp ứng điều kiện pháp luật và được cấp có thẩm quyền chấp thuận, không thể mặc nhiên coi là nguồn vốn sẵn có.
Đối với dự án PPP, việc chuẩn bị cũng cần đồng thời làm rõ phần vốn nhà nước tham gia, trách nhiệm của nhà đầu tư, khả năng huy động vốn và phương án tài chính cho toàn bộ lộ trình. Nếu chỉ xác định được nhu cầu đầu tư mà chưa chứng minh khả năng thu xếp vốn, dự án sẽ khó bảo đảm tiến độ như kỳ vọng.
Giải phóng mặt bằng cũng là khâu có ảnh hưởng lớn đến tiến độ. Với những dự án đáp ứng điều kiện pháp luật, việc nghiên cứu tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án hoặc hợp phần độc lập có thể giúp chuẩn bị mặt bằng sớm hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là một giải pháp trong quy trình triển khai, không thay thế yêu cầu xác định nguồn vốn và tính khả thi của tuyến cao tốc chính.
Vấn đề cần được làm rõ là trình tự, điều kiện và thẩm quyền thực hiện, qua đó giúp địa phương xác định phần việc có thể triển khai trước, nguồn lực sử dụng và các mốc tiến độ tương ứng.
Rõ trách nhiệm, gắn bố trí vốn với kết quả
Ở cấp địa phương, yêu cầu trọng tâm là xây dựng phương án tổng thể đủ cơ sở thẩm định, thay vì chỉ đăng ký nhu cầu hỗ trợ. Phương án cần phân biệt rõ vốn đã được quyết định, vốn dự kiến cân đối, vốn đề xuất và phần còn thiếu; đồng thời thể hiện khả năng tham gia của ngân sách địa phương, các hợp phần đủ điều kiện triển khai trước, tiến độ chuẩn bị đầu tư và giải phóng mặt bằng.
Tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” đòi hỏi năng lực tổ chức thực hiện và khả năng hấp thụ vốn phải được thể hiện bằng kết quả cụ thể. Địa phương cần chủ động chuẩn bị hồ sơ, rà soát các điều kiện triển khai và xác định rõ trách nhiệm đối với tiến độ, chất lượng cũng như hiệu quả sử dụng vốn.
Ở cấp Trung ương, Bộ Xây dựng có vai trò rà soát thứ tự ưu tiên theo quy hoạch và mạng lưới giao thông, đánh giá hiệu quả kết nối, mức độ đồng bộ giữa các tuyến, đồng thời làm rõ căn cứ đề xuất quy mô đầu tư và mức hỗ trợ.
Bộ Tài chính giữ vai trò quan trọng trong tổng hợp nhu cầu vốn, tham mưu phương án phân bổ phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn, khả năng cân đối ngân sách và các quy định pháp luật hiện hành.
Đặc biệt, việc hướng dẫn thống nhất về hồ sơ, điều kiện và trình tự đề xuất bổ sung các dự án cao tốc liên vùng vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030 sẽ giúp địa phương có cơ sở chuẩn bị và hoàn thiện hồ sơ. Những nội dung cần làm rõ gồm chủ trương đầu tư, tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, khả năng cân đối vốn địa phương và phần vốn đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ.
Chính phủ giữ vai trò điều phối giữa các bộ, ngành và địa phương, tháo gỡ những vấn đề có tính liên vùng, xem xét cơ chế đặc thù khi có căn cứ và trình cấp có thẩm quyền quyết định đối với những nội dung vượt khuôn khổ hiện hành.
Bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế đầu tư, trách nhiệm giải ngân và tiến độ thực tế cần trở thành căn cứ quan trọng trong bố trí, điều chuyển vốn. Theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg, kết quả giải ngân được đánh giá thông qua tỷ lệ so với bình quân chung, mức giải ngân so với kế hoạch đăng ký và việc chấp hành chế độ báo cáo. Kết quả này là cơ sở để đôn đốc tiến độ và xem xét trách nhiệm của các đơn vị liên quan.
Đến hết tháng 9/2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công cả nước đạt 64,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; 15 địa phương có tỷ lệ thấp hơn mức bình quân chung. Theo thông tin trong nội dung đề xuất, chỉ số đánh giá kết quả thực hiện (KPI) giải ngân được áp dụng chính thức từ kỳ báo cáo tháng 10/2026.
Cùng với đó, chủ trương điều chuyển vốn từ dự án chậm tiến độ sang dự án có tiến độ và khả năng hấp thụ vốn tốt hơn có thể góp phần tập trung nguồn lực vào những công trình đủ điều kiện tạo khối lượng thực tế. Tuy nhiên, việc điều chuyển cần gắn với đánh giá nguyên nhân chậm giải ngân, khả năng khắc phục và yêu cầu bảo đảm tiến độ tổng thể của từng dự án.
Cần cơ chế đồng bộ để hiện thực hóa mục tiêu trước năm 2030
Khả năng triển khai các tuyến cao tốc liên vùng trước năm 2030 phụ thuộc vào sự kết hợp giữa cơ chế điều phối, hỗ trợ rõ ràng từ Trung ương và năng lực chuẩn bị, tổ chức thực hiện của địa phương.
Khi nhu cầu vốn, phần ngân sách có thể cân đối, phần đề nghị hỗ trợ, phương án xử lý vốn còn thiếu và tiến độ giải ngân được xác định cụ thể, việc lựa chọn dự án mới có cơ sở để chuyển từ đề xuất sang triển khai thực chất.
Trong bối cảnh nguồn lực có hạn, yêu cầu không chỉ là phân bổ vốn cho nhiều dự án, mà còn phải bảo đảm vốn được tập trung đúng trọng tâm, đúng thời điểm và gắn với trách nhiệm của từng cấp. Đây là điều kiện quan trọng để hạn chế đầu tư dàn trải, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và từng bước hoàn thiện mạng lưới cao tốc liên vùng theo mục tiêu đặt ra.