“Kinh tế bạc”: Đánh thức nguồn lực từ người cao tuổi
VOV.VN - Già hóa dân số nhanh đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách nhìn về người cao tuổi. Không chỉ là nhóm cần được chăm sóc, họ còn sở hữu kinh nghiệm, tri thức, sức mua và khả năng tiếp tục đóng góp cho nền kinh tế, mở ra dư địa phát triển “kinh tế bạc” tại Việt Nam.
Việt Nam hiện có gần 16,5 triệu người cao tuổi. Trong đó, hơn 9 triệu người vẫn tham gia lao động, sản xuất, kinh doanh; hơn 733.000 người tham gia công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể và hơn 1,1 triệu người tham gia giữ gìn an ninh trật tự. Cùng với đó, gần 80.000 câu lạc bộ văn hóa, thể thao thu hút hơn 3 triệu người cao tuổi; hơn 9.000 câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau góp phần tăng cường gắn kết cộng đồng.
Những con số này cho thấy người cao tuổi đang đóng góp tích cực cho gia đình, cộng đồng và nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ già hóa nhanh cũng tạo sức ép lên hệ thống y tế, an sinh xã hội, thị trường lao động và dịch vụ chăm sóc. Người cao tuổi ở vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ, việc làm và chuyển đổi số. Thực tế này đòi hỏi chuyển từ tư duy coi người cao tuổi là đối tượng thụ hưởng sang phát huy họ như một nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Người cao tuổi không chỉ là đối tượng thụ hưởng
Già hóa dân số đặt ra thách thức khi lực lượng bổ sung cho thị trường lao động có xu hướng giảm, trong khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an sinh tăng lên.
TS. Bùi Sỹ Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, nhấn mạnh, đây là quá trình cần được chuẩn bị từ sớm thông qua những chương trình dài hạn, nhằm hạn chế tác động bất lợi của già hóa dân số đối với nền kinh tế.
Dân số già cũng phản ánh những tiến bộ về kinh tế, y tế và chăm sóc sức khỏe khi tuổi thọ ngày càng tăng. Vì vậy, bên cạnh bảo đảm đời sống, cần phát huy những giá trị mà người cao tuổi có thể tiếp tục đóng góp. Kinh nghiệm và tri thức là những nguồn lực đáng chú ý. Dù sức khỏe có thể hạn chế khả năng đảm nhận công việc nặng nhọc, nhiều người vẫn có thể làm những công việc phù hợp, dựa trên kiến thức và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm.
“Chúng ta không nên coi dân số già chỉ là một áp lực cho xã hội, mà phải phát huy dân số già để cùng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”, ông Bùi Sỹ Lợi cho hay.
Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu trong những năm qua cũng được nhìn nhận là một hướng nhằm tận dụng nguồn nhân lực giàu kinh nghiệm. Điều quan trọng là có cơ chế bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, năng lực và điều kiện của từng người.
Bên cạnh khả năng lao động, người cao tuổi còn tạo nên một thị trường tiêu dùng đáng kể. Khi quy mô nhóm dân số này tăng, nhu cầu về y tế, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, đi lại, dinh dưỡng, thể thao, văn hóa, giáo dục và các dịch vụ tinh thần cũng thay đổi.
TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế nhận định, Việt Nam đang chuyển từ cơ cấu dân số tương đối trẻ sang giai đoạn già hóa. Trong khoảng 2 thập kỷ qua, những tiến bộ về y tế và chăm sóc sức khỏe đã góp phần kéo dài tuổi thọ, khiến tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng.
Theo ông, đây là nhóm dân số có nhu cầu riêng về sức khỏe, y tế, đi lại và sinh hoạt, đồng thời vẫn tham gia tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư và nhiều hoạt động khác của nền kinh tế. Nếu nhận diện đúng những nhu cầu này, thị trường người cao tuổi có thể tạo thêm giá trị và đóng góp cho GDP.
Dư địa lớn cho sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, “kinh tế bạc” không chỉ là thị trường dành cho người cao tuổi mà còn bao gồm hệ thống sản xuất, kinh doanh và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số này.
Các lĩnh vực tiềm năng trước hết là chăm sóc y tế, phương tiện hỗ trợ, nhà ở, viện dưỡng lão và khu sinh hoạt dành cho người cao tuổi. Ngay trong hệ thống bệnh viện cũng có thể phát triển những khu vực chuyên biệt. Thực phẩm, dinh dưỡng, thể thao cũng có thể hình thành những sản phẩm phù hợp với đặc điểm của nhóm khách hàng này. Bên cạnh đó là các dịch vụ phục vụ đời sống tinh thần, nhu cầu tri thức và giao lưu xã hội.
TS. Hiếu lưu ý, người cao tuổi không phải một nhóm đồng nhất. Có người cần chăm sóc sức khỏe chuyên sâu, có người vẫn đủ khả năng lao động; có người muốn học tập, du lịch, chơi thể thao, trong khi những người khác quan tâm nhiều hơn đến nhà ở và các dịch vụ hỗ trợ sinh hoạt.
Nhu cầu giáo dục và tiếp cận tri thức cũng có thể mở ra những phân khúc mới. Nhiều người cao tuổi vẫn có khả năng tham gia các chương trình đào tạo, thậm chí trở thành giảng viên, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho thế hệ khác.
“Từ nhu cầu đến sản phẩm, dịch vụ là cả một chuỗi giá trị. Khi đã xác định được những nhu cầu đặc thù, thị trường cần có các nhà cung cấp đủ năng lực để đáp ứng. Đó có thể là doanh nghiệp xây dựng viện dưỡng lão, nhà sản xuất thực phẩm dành riêng cho người cao tuổi hay các đơn vị phát triển phương tiện, dịch vụ di chuyển phù hợp. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những nhu cầu này thực sự trở thành một thị trường thay vì chỉ dừng ở tiềm năng”, ông Nguyễn Trí Hiếu chia sẻ.
Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách còn hạn chế, khu vực tư nhân được xem là thành phần quan trọng trong phát triển kinh tế bạc. Nhà nước có thể bố trí ngân sách cho các chương trình chăm sóc người cao tuổi, nhưng khó đáp ứng toàn bộ nhu cầu ngày càng đa dạng của nhóm dân số này.
Kinh nghiệm tại nhiều quốc gia cho thấy, bên cạnh ngân sách công, khu vực tư nhân có thể tham gia đầu tư các cơ sở nghỉ dưỡng, chăm sóc, phương tiện di chuyển và nhiều loại hình dịch vụ khác. Tại bang California của Mỹ, ngân sách dành cho người cao tuổi được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như chăm sóc y tế, sức khỏe, di chuyển và nhà ở.
Từ góc độ chính sách, TS. Nguyễn Trí Hiếu đề xuất Việt Nam cần xây dựng một chương trình tổng thể dành cho người cao tuổi, xác định rõ các sản phẩm, dịch vụ cần phát triển cũng như nguồn vốn từ ngân sách và khu vực tư nhân. Khi có định hướng chung, doanh nghiệp sẽ có cơ sở xác định lĩnh vực đầu tư, còn Nhà nước có thể thiết kế các cơ chế hỗ trợ phù hợp. Đây là điều kiện để “kinh tế bạc” từng bước hình thành một thị trường thực sự.
Phát huy nguồn lực bạc để giảm áp lực an sinh
Theo các chuyên gia, già hóa dân số sẽ làm tăng áp lực lên ngân sách khi số người nghỉ hưu nhiều hơn, trong khi lực lượng lao động trẻ có xu hướng giảm.
Thực tế này cũng diễn ra tại Nhật Bản và nhiều quốc gia châu Âu, nơi tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh trong khi số người trẻ bổ sung cho thị trường lao động giảm. Tại Mỹ, ngân sách cũng phải dành nguồn lực để chi trả lương hưu.
Với Việt Nam, bài toán đặt ra là tính toán nhu cầu ngân sách dành cho người cao tuổi trong những năm tới, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng đủ để bảo đảm nguồn lực cho an sinh xã hội. TS. Nguyễn Trí Hiếu phân tích, nếu tăng trưởng đạt từ 10% trở lên, ngân sách dành cho các nhu cầu xã hội sẽ có thêm dư địa; ngược lại, tăng trưởng thấp có thể khiến việc cân đối nguồn lực khó khăn hơn.
Tuy nhiên, giảm áp lực an sinh không chỉ dựa vào tăng chi ngân sách mà còn cần tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục đóng góp.
Theo TS. Bùi Sỹ Lợi, người cao tuổi khỏe mạnh, làm việc phù hợp với năng lực vừa có thêm thu nhập, giảm phụ thuộc vào gia đình và Nhà nước, vừa góp phần hạn chế chi phí chăm sóc nhờ duy trì sức khỏe. Ông nhấn mạnh, cần tạo môi trường để họ tiếp tục tham gia đời sống kinh tế - xã hội thông qua công việc phù hợp, hoạt động cộng đồng và truyền đạt kinh nghiệm.
“Tuổi nhỏ thì làm việc nhỏ, còn tuổi cao thì làm bằng kinh nghiệm và trí tuệ”, ông Lợi nói.
Theo ông, chính sách dành cho người cao tuổi cần được triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao và an sinh, qua đó tạo điều kiện để họ tiếp tục tham gia và đóng góp cho xã hội.
“Kinh tế bạc” vì thế không chỉ là phát triển sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi, mà còn là cách tổ chức lại thị trường và nguồn nhân lực để thích ứng với một xã hội đang già hóa.
Khi được nhìn nhận như một nguồn lực, người cao tuổi có thể tiếp tục phát huy sức mua, kinh nghiệm, tri thức và khả năng lao động phù hợp. Cùng với việc phát triển các dịch vụ chăm sóc, y tế, nhà ở, du lịch, tài chính và đời sống tinh thần, kinh tế bạc có thể trở thành một cấu phần trong quá trình thích ứng với già hóa dân số, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm áp lực lên gia đình, hệ thống an sinh xã hội.