Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Siết hậu kiểm, tránh gây khó cho người dân
VOV.VN - Ngày 24/10, tại phiên thảo luận tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các đại biểu Quốc hội đề nghị giảm thủ tục hành chính phải đi đôi với nâng cao năng lực giám sát, kiểm soát ô nhiễm và làm rõ trách nhiệm thực thi.
Giảm thủ tục nhưng không được giảm năng lực kiểm soát ô nhiễm
Đại biểu Nguyễn Vũ Trung, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.HCM đánh giá cao sự chuẩn bị của Ban soạn thảo, đồng thời cho rằng dự thảo có hướng đi phù hợp khi quản lý theo mức độ rủi ro, giảm tiền kiểm và số hóa quản lý môi trường. Tuy nhiên, việc cắt giảm thủ tục đang nhanh hơn quá trình thiết kế cơ chế hậu kiểm, công khai dữ liệu và bảo đảm trách nhiệm giải trình.
Theo đại biểu, nếu thiếu các giới hạn rõ ràng trong luật và năng lực thực thi tại địa phương, việc giảm chi phí hành chính có thể đi kèm nguy cơ gia tăng ô nhiễm và tranh chấp. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả chi phí phòng ngừa, xử lý, phục hồi và bồi thường cần được quy định cụ thể; đồng thời, kết quả sử dụng ngân sách môi trường và tiến độ khắc phục các điểm nóng ô nhiễm phải được công khai hằng năm.
Đối với giấy phép môi trường, việc kéo dài thời hạn lên 10 năm có thể giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, nhưng cần có hệ thống quan trắc đáng tin cậy và cơ chế điều chỉnh khi rủi ro thay đổi. Đại biểu cũng cảnh báo việc nước thải đạt quy chuẩn tại điểm xả chưa đồng nghĩa nguồn nước tiếp nhận không suy thoái, nhất là khi có nhiều nguồn thải cùng tác động.
Trong chuyển đổi số, ông đề nghị thực hiện nguyên tắc “nhập một lần, dùng nhiều lần”, công khai dữ liệu phát thải, kết quả quan trắc và tình trạng giấy phép, đồng thời bảo đảm khả năng truy xuất, sửa sai dữ liệu. Các quy định về thử nghiệm công nghệ môi trường cũng cần giới hạn rõ quy mô, thời hạn, đánh giá rủi ro và trách nhiệm khắc phục sự cố.
Cùng quan điểm chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại thảo luận tại tổ TP Hải Phòng nhấn mạnh hậu kiểm phải giúp phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời và ngăn chặn ô nhiễm trước khi gây hậu quả.
Theo đại biểu, nếu giảm mạnh thủ tục mà không nâng tương ứng năng lực quan trắc, giám sát, thanh tra và kiểm tra, nguy cơ thiếu công cụ kiểm soát sẽ rất đáng lo ngại. Ông đề nghị thiết kế cơ chế hậu kiểm theo ba cấp độ rủi ro cao, trung bình và thấp; đồng thời kiểm soát tính độc lập của dịch vụ quan trắc, bởi doanh nghiệp phát thải thường là bên ký hợp đồng và trả tiền cho đơn vị cung cấp dịch vụ.
Luật cần quy định rõ tính toàn vẹn của dữ liệu quan trắc, trách nhiệm pháp lý của đơn vị cung cấp dịch vụ, lịch sử vận hành, hiệu chuẩn thiết bị và các thao tác can thiệp dữ liệu nhằm hạn chế xung đột lợi ích.
Quy định chăn nuôi phải phù hợp điều kiện thực tế
Từ góc độ sản xuất nông nghiệp, đại biểu Lương Quốc Đoàn, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, đề nghị rà soát các yêu cầu bảo vệ môi trường trong chăn nuôi, bảo đảm người dân có thể thực hiện được trong điều kiện thực tế.
Đề cập khoản 2 Điều 60, ông bày tỏ băn khoăn về yêu cầu chuồng trại chăn nuôi hộ gia đình phải bảo đảm vệ sinh, không gây ô nhiễm tiếng ồn, phát tán mùi khó chịu và phải thu gom, xử lý chất thải. Theo đại biểu, ô nhiễm trong chăn nuôi là vấn đề khó giải quyết triệt để, kể cả khi đã áp dụng đệm lót sinh học, chế phẩm sinh học và các biện pháp kỹ thuật khác.
Nếu yêu cầu không phát tán mùi nhưng không quy định rõ mức độ, điều kiện áp dụng và phương pháp đánh giá, người chăn nuôi sẽ khó đáp ứng, đồng thời có thể phát sinh bất cập trong kiểm tra, xử lý. Khoảng cách giữa cơ sở chăn nuôi với khu dân cư cũng cần được xem xét theo điều kiện cụ thể, bởi mùi còn phụ thuộc vào hướng gió và thời điểm.
Đối với chăn nuôi vịt chạy đồng, trâu, bò, dê, cừu theo đàn, việc áp dụng yêu cầu thu gom chất thải như đối với chuồng trại cố định có thể khó khả thi. Vì vậy, đại biểu đề nghị phân loại theo quy mô, hình thức chăn nuôi, vùng sản xuất và thời điểm, kèm hướng dẫn cụ thể để người dân biết cách thực hiện.
Vấn đề nước thải sinh hoạt cũng cần được nhìn nhận theo điều kiện hạ tầng. Nhiều vùng nông thôn chưa có hệ thống mương, cống, rãnh thu gom; miền núi và đồng bằng có những đặc điểm khác nhau. Quy định pháp luật cần tính đến thực tế này để vừa bảo vệ môi trường, vừa tránh tạo gánh nặng vượt quá khả năng đáp ứng của người dân.
Với phụ phẩm nông nghiệp, đại biểu đề nghị rà soát quy định thu gom, tận dụng và xử lý rơm, rạ. Dù một phần rơm đã được đóng kiện phục vụ trồng nấm và các mục đích khác, việc tận dụng vẫn chưa bao phủ toàn bộ lượng phụ phẩm phát sinh.
Ông cũng đề nghị mở rộng phạm vi hỗ trợ kỹ thuật tại khoản 6 Điều 61, không chỉ tập trung vào mô hình canh tác giảm phát thải khí nhà kính, tạo tín chỉ carbon và thích ứng biến đổi khí hậu trong trồng trọt, mà cần quan tâm đến sản xuất nông nghiệp nói chung, đặc biệt là chăn nuôi và các hộ gia đình.
Những góp ý tại phiên thảo luận cho thấy sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu kiểm soát ô nhiễm và điều kiện thực hiện của người dân, doanh nghiệp. Giảm thủ tục chỉ thực sự có ý nghĩa khi hậu kiểm đủ mạnh, dữ liệu minh bạch, trách nhiệm rõ ràng và các quy định được thiết kế phù hợp với thực tiễn, qua đó bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà không tạo ra những rào cản thiếu khả thi đối với sản xuất, đời sống.