Tâm lý chuộng con trai vẫn là “gốc rễ” mất cân bằng giới tính
VOV.VN - Tâm lý ưa thích con trai để nối dõi, thờ cúng tổ tiên hoặc làm chỗ dựa khi về già vẫn tồn tại ở một bộ phận người dân, được Bộ Y tế xác định là nguyên nhân gốc rễ khiến mất cân bằng giới tính khi sinh kéo dài.
109 bé trai /100 bé gái: Tín hiệu tích cực nhưng chưa thể chủ quan
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016-2025 của Bộ Y tế cho thấy tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) tại Việt Nam đã có xu hướng được kiểm soát. Tuy nhiên, mức chênh lệch giới tính vẫn cao hơn đáng kể so với ngưỡng cân bằng tự nhiên và kết quả giảm trong những năm gần đây chưa đủ vững chắc.
Theo báo cáo, tại thời điểm 1/4/2025, TSGTKS ở mức 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống. Con số này đã tiệm cận mục tiêu định hướng đến năm 2030, song Bộ Y tế đánh giá đây mới là tín hiệu tích cực bước đầu. Trong giai đoạn 2021-2024, tỷ số này vẫn dao động ở mức cao, từ 111,4 bé trai/100 bé gái trở lên, đồng thời có sự khác biệt đáng kể giữa các năm, vùng miền và địa phương.
Đáng chú ý, một số địa phương vẫn ghi nhận TSGTKS cao, thậm chí tăng cục bộ. Điều này cho thấy nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) có thể quay trở lại nếu các biện pháp can thiệp không được duy trì thường xuyên, liên tục và đủ mạnh.
Tâm lý “phải có con trai” chưa dễ thay đổi
Báo cáo xác định các yếu tố văn hóa - xã hội là một trong những nguyên nhân gốc rễ khiến MCBGTKS kéo dài. Tâm lý ưa thích con trai vẫn tồn tại ở một bộ phận người dân, đặc biệt tại một số vùng và nhóm dân cư.
Nhiều gia đình vẫn kỳ vọng có con trai để nối dõi, thờ cúng tổ tiên hoặc coi con trai là chỗ dựa khi về già. Đáng chú ý, có 56/57 báo cáo của các tỉnh, thành đồng thuận với nhận định này.
Tại một số địa phương như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nam Định, áp lực từ gia đình, dòng họ cùng tâm lý muốn "dự phòng rủi ro" khi về già vẫn có thể thúc đẩy các cặp vợ chồng lựa chọn giới tính thai nhi.
Đây là vấn đề khó giải quyết trong thời gian ngắn bởi không chỉ liên quan đến quyết định sinh con mà còn bắt nguồn từ những quan niệm đã tồn tại lâu dài về vai trò của nam giới và phụ nữ trong gia đình.
Trong khi đó, sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ y tế lại tạo thêm thách thức mới. Các kỹ thuật giúp xác định sớm giới tính thai nhi ngày càng phổ biến, dễ tiếp cận, đặc biệt tại khu vực y tế tư nhân. Điều này khiến việc quản lý, giám sát trở nên khó khăn hơn.
Không gian mạng cũng trở thành một "điểm nóng". Hoạt động quảng cáo, cung cấp thông tin liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi diễn ra ngày càng tinh vi, trong khi cơ chế giám sát và chế tài xử lý vi phạm trên môi trường mạng chưa theo kịp thực tế.
Thiếu kinh phí, chính sách chưa đủ mạnh
Một hạn chế đáng chú ý khác là nguồn lực dành cho kiểm soát MCBGTKS chưa được bảo đảm ổn định và lâu dài.
Sau khi Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số kết thúc vào cuối năm 2020, nguồn kinh phí từ Trung ương có xu hướng giảm. Nhiều địa phương cũng gặp khó khăn trong cân đối ngân sách, việc bố trí kinh phí có nơi chưa kịp thời hoặc chưa tương xứng với nhu cầu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì các mô hình và hoạt động can thiệp.
Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ các gia đình sinh con một bề là gái, nâng cao vị thế trẻ em gái và giảm tâm lý phụ thuộc vào con trai chưa đồng bộ. Hệ thống an sinh xã hội, nhất là bảo đảm cuộc sống cho người cao tuổi, chưa tạo được nền tảng đủ mạnh để giảm tâm lý coi con trai là chỗ dựa khi về già.
Sự quan tâm giữa các địa phương cũng chưa đồng đều. Một số nơi chưa thực sự coi kiểm soát MCBGTKS là nhiệm vụ ưu tiên do nhận thức chưa đầy đủ về mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Phối hợp giữa ngành Y tế với các sở, ban, ngành ở một số địa phương chưa thường xuyên, liên tục.
Công tác truyền thông cũng bộc lộ nhiều điểm yếu. Nội dung và hình thức chưa được thiết kế đủ sát với từng nhóm đối tượng và đặc điểm văn hóa vùng miền. Một số hoạt động còn mang tính hình thức, chưa tiếp cận hiệu quả thanh niên, công nhân tại các khu công nghiệp hay người dân ở vùng sâu, vùng xa.
Đặc biệt, truyền thông trên nền tảng số và mạng xã hội chưa theo kịp cách người dân, nhất là giới trẻ, tiếp nhận thông tin. Trong bối cảnh các nội dung quảng bá lựa chọn giới tính có thể lan truyền nhanh trên Internet, khoảng trống này trở thành một hạn chế đáng lưu ý.
Hiệu lực quản lý nhà nước và thực thi pháp luật cũng là điểm nghẽn được Bộ Y tế chỉ ra.
Việc thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn do phương thức vi phạm ngày càng tinh vi, khó thu thập chứng cứ. Chế tài xử phạt đối với một số hành vi chưa đủ sức răn đe.
Trong khi đó, lực lượng thanh tra chuyên ngành dân số còn mỏng, hạn chế về số lượng, nghiệp vụ và trang thiết bị hỗ trợ. Cán bộ dân số tại cơ sở ở một số địa phương còn biến động, phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và tổ chức thực hiện.
Những hạn chế này đặc biệt đáng lưu ý trong bối cảnh các cơ sở y tế tư nhân có điều kiện tiếp cận nhanh với công nghệ mới, còn các hành vi quảng cáo, tư vấn lựa chọn giới tính có thể chuyển sang môi trường trực tuyến.
Theo Bộ Y tế, nếu xu hướng MCBGTKS gia tăng trở lại, chênh lệch giới tính trong độ tuổi kết hôn sẽ ngày càng lớn, có thể dẫn đến tình trạng "thừa nam, thiếu nữ" trong tương lai và tạo ra sức ép hôn nhân.
Hệ quả không chỉ dừng ở những biến động về nhân khẩu học mà còn có thể tác động đến đời sống cá nhân, gia đình và xã hội; làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng giới, mua bán phụ nữ và trẻ em gái, bạo lực giới cùng nhiều vấn đề xã hội khác.
Vì vậy, việc đưa TSGTKS về mức cân bằng tự nhiên không thể chỉ dựa vào các biện pháp dân số đơn thuần. Theo báo cáo, cần gắn kiểm soát MCBGTKS với thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao vị thế phụ nữ và trẻ em gái, đồng thời củng cố hệ thống an sinh xã hội
Ngăn “thừa nam, thiếu nữ” từ hôm nay
Từ thực tiễn 10 năm triển khai Đề án, Bộ Y tế cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận trong giai đoạn tới. Thay vì triển khai dàn trải, các biện pháp cần tập trung vào những địa bàn có TSGTKS cao, nhóm dân cư có nguy cơ và các nguyên nhân cụ thể.
Truyền thông, vận động xã hội tiếp tục được xác định là giải pháp cốt lõi, nhưng cần đổi mới nội dung, hình thức và phương thức tiếp cận. Thông điệp phải phù hợp từng nhóm đối tượng, văn hóa địa phương và được triển khai mạnh hơn trên các nền tảng số.
Song song đó, cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ phụ nữ, trẻ em gái; tăng cường kiểm tra các cơ sở y tế, đặc biệt khu vực tư nhân; xử lý nghiêm hành vi lựa chọn giới tính thai nhi và quảng bá dịch vụ trái quy định.
Báo cáo cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định, xây dựng đội ngũ cán bộ dân số đủ năng lực và tăng cường phối hợp liên ngành.
Đặc biệt, trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh và mức sinh có xu hướng giảm, Việt Nam cần tăng năng lực dự báo, giám sát và xây dựng cơ sở dữ liệu dân số hiện đại. Đây được xem là nền tảng để phát hiện sớm những biến động về TSGTKS và kịp thời điều chỉnh chính sách.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là kéo tỷ số 109 bé trai/100 bé gái hiện nay xuống mức cân bằng tự nhiên, mà quan trọng hơn là duy trì kết quả đó một cách bền vững, tránh nguy cơ MCBGTKS quay trở lại và tạo ra những hệ lụy kéo dài cho cơ cấu dân số trong tương lai.