Tuyên Quang: Xác định nhiều mục tiêu trong đổi mới mô hình phát triển
VOV.VN - Để thực hiện có hiệu quả mô hình phát triển của đất nước, Tuyên Quang đã xác định các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, 2035 và 2045, cùng các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm tạo chuyển biến về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị và sức cạnh tranh của tỉnh.
Xác định mục tiêu cụ thể từng ngành, lĩnh vực
Về kinh tế, tỉnh Tuyên Quang phấn đấu giai đoạn 2026-2030 tốc độ tăng GRDP bình quân đạt 10,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đến cuối kỳ đạt 95 triệu đồng; năng suất lao động tăng bình quân 9,1%/năm; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt trên 20%. Giai đoạn 2031-2035, các chỉ tiêu tương ứng là 8%/năm, 137 triệu đồng/người, 7,8%/năm và trên 32%; giai đoạn 2036-2045 phấn đấu đạt 7%/năm, 247 triệu đồng/người, 6,2%/năm và trên 40%.
Tỉnh Tuyên Quang cũng tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phấn đấu đến năm 2030 có trên 10 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; trên 25% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; trên 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số; trên 60% sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù được bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ. Chi ngân sách địa phương cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt trên 1,5%; tỷ lệ cơ sở dữ liệu dùng chung thuộc danh mục được phê duyệt hoàn thành số hóa, kết nối, chia sẻ với các hệ thống của Trung ương đạt 80%.
Cùng với đó, đặt mục tiêu nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đến năm 2030, chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) phấn đấu xếp thứ 20/34 tỉnh, thành phố; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thuộc nhóm địa phương có chất lượng điều hành “Khá”; chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) đạt từ 80% trở lên; chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) xếp từ 15 đến 20/34 tỉnh, thành phố; chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) thuộc nhóm “Khá”.
Trong lĩnh vực xã hội, Tuyên Quang phấn đấu đến năm 2030 quy mô dân số đạt khoảng 1,859 triệu người; tỷ trọng đào tạo các ngành STEM đạt 30%; có trên 600 cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ. Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt khoảng 50%, bảo hiểm thất nghiệp khoảng 35%; hướng tới 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe tối thiểu 68 năm.
Về văn hóa, con người, chỉ số phát triển con người (HDI), Tuyên Quang phấn đấu đạt 0,72 vào năm 2030; tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp văn hóa đạt 7%/năm; xây dựng 3 không gian văn hóa, sáng tạo, trải nghiệm tại các khu vực phù hợp. Đồng thời, từng bước triển khai các mô hình văn hóa số, sáng tạo nội dung số, nghệ thuật số, du lịch di sản thông minh, kinh tế đêm và không gian sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh.
Về môi trường sinh thái, đến năm 2030, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 26,1%; 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 70% số hộ dân tại khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai có nhà ở an toàn; hoàn thành di dời 80% số hộ dân sinh sống tại nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất đến nơi an toàn. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,2%; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95%; 98% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường.
Nhiều giải pháp đồng bộ, sát thực tiễn, có tính khả thi cao
Để thực hiện các mục tiêu trên, tỉnh Tuyên Quang xác định 40 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực. Trong đó, tập trung cụ thể hóa khung mô hình phát triển tổng quát; triển khai khung chỉ số quản trị quốc gia tại địa phương; hoàn thiện hệ thống pháp luật, thu hút và trọng dụng nhân tài; phát triển kinh tế không gian ngầm, không gian tầm thấp; triển khai các chiến lược về trí tuệ nhân tạo, công nghiệp, năng lượng, dịch vụ và logistics. Đồng thời xây dựng và triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với ngành, lĩnh vực ưu tiên và sản phẩm chủ lực. Xây dựng Trường Đại học Tân Trào đạt chuẩn cơ sở giáo dục đại học, trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của tỉnh và khu vực.
Trên lĩnh vực xã hội, văn hóa và môi trường, triển khai các bộ tiêu chí đánh giá toàn diện về xã hội, chiến lược dân số, phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động hiện đại; nghiên cứu các mô hình văn hóa số, sáng tạo nội dung số, nghệ thuật số, du lịch di sản thông minh; thực hiện các kế hoạch phòng, chống dịch bệnh quy mô lớn, phòng, chống thiên tai và phát triển công nghiệp môi trường.
Về quốc phòng, an ninh, xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc phòng, hệ thống chỉ huy - điều hành số; tăng cường năng lực phòng ngừa, ứng phó các nguy cơ an ninh, xây dựng các nền tảng số dùng chung phục vụ quản lý, điều hành, giám sát và dự báo. Trong đối ngoại và hội nhập quốc tế, hằng năm phấn đấu ký kết mới từ 3-5 chương trình hợp tác quốc tế, kết nối từ 10-20 đối tác quốc tế mới, ưu tiên các lĩnh vực đầu tư, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và những lĩnh vực tỉnh có nhu cầu, lợi thế….