Tết xưa ở nông thôn Nam Bộ

Người Nam Bộ luôn trân trọng và gìn giữ những nghi lễ mang tính nhân văn của cha ông. Đặc biệt, trong những ngày Tết cổ truyền, những nghi lễ đó càng được phát huy.  

Tối ba mươi nghe pháo giao thừa: Ờ Tết!

Rạng mồng Một vấp nêu nguyên đán: À Xuân!

(Câu đối của Nguyễn Công Trứ)

 Trong buổi đầu mới khai phá ở miền Nam, “bước chân Nam Tiến” của tiền nhân, ta không thể không ngập ngừng dừng lại tại từng nơi trên vùng đất thấp. Cuộc sống của họ buổi sơ thời phải đối đầu với quá nhiều gian nan cơ cực, làm sao “ăn Tết”! Buồn thảm biết dường nào! Mãi cho đến thời nhà Nguyễn, Tết ở miền Nam mới có phần nào khởi sắc.

Vào tháng cuối năm, trước ngày 23 tháng Chạp đưa ông Táo về trời, ai nấy cũng lo bồi đắp phần mộ ông bà, lau dọn bàn thờ Tổ tiên, bày biện hoa trái, chuẩn bị heo, gà, gạo nếp để chế biến thức ăn. Trước cúng ông bà để tỏ lòng hiếu thảo, sau dùng đãi khách, cũng là dịp để gia đình, con cháu quây quần ăn bữa cơm đầm ấm. Nhà cửa đều được quét dọn sạch sẽ. Người có điều kiện thì may sắm thêm quần áo mới… Mọi sự rộn rịp ấy đều nằm trong ý “tống cựu nghinh tân”. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận thêm là vào đêm 28 tháng Chạp, na nhân (tục danh nậu sắc bùa) đánh trống, gõ phách, một nhóm khoảng 15 người đi theo dọc đường, trông nhà hào phú nào mở cửa ngõ thì vào dán lá bùa ngay cửa, niệm thần chú rồi nổi trống phách lên, ca xướng những lời chúc mừng. Người chủ nhà dùng cỗ bàn, chè rượu khoản đãi rồi gói tiền thưởng tạ. Xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy cho đến chiều bữa trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tống tà ma, trừ cũ rước mới vậy.

Bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa đều dựng một cây tre, trên buộc một cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo lá bùa “tứ tung ngũ hoành”, giấy vàng bạc, xâu vỏ ốc…, gọi là “lên nêu”.

Mãi cả trăm năm sau, khi mà cuộc sống người dân đã khá hơn nhờ đất ruộng, vườn tược xum xuê, bà con mới có điều kiện “lo Tết”. Họ chuẩn bị từ cả ba bốn tháng trước. Nhà nhà, ai cũng chăm sóc vật nuôi chu đáo, liệu lượng sao cho đến Tết thì heo đúng tạ, gà vừa ký. Việc đồng thì ngoài những giống gieo sạ thông thường, bà con cấy thêm một vài công lúa, nếp loại giống sớm, để kịp thu hoạch đúng Tết. Với đặc sản này, họ dùng đặt rượu đế, quết cốm dẹp, hoặc xay bằng cối đất, hay giã bằng chày trên cối gỗ để chế biến thức ăn, làm bánh. Điều đặc biệt là bà con không chịu mang đến nhà máy xay lúa (khi đã có nhà máy), cũng không chịu trao đổi với các ghe “lúa đổi gạo” rao mời hàng ngày khắp các kinh rạch. Theo họ, xay, đổi để ăn thì được, nhưng để cúng thì không. Bà con cho rằng, tự tay mình làm ra hạt gạo đem dâng cúng Tổ tiên mới nói lên được đầy đủ lòng thành hiếu thảo và cũng nhằm tránh hàng xóm dị nghị, chê cười.

Ngoài lúa nếp, người nông dân còn trồng thêm hoa màu phụ nhiều loại, trong đó dưa hấu Tết là loại không thể thiếu được. Tết, nhà nào cũng mua đôi chục dưa ăn và ít lắm cũng vài trái “dưa cặp” (lớn nhất) để chưng cúng trang trọng trên bàn thờ, vừa mang ý nghĩa “xanh vỏ đỏ lòng”, lại vừa là dịp để nhắc nhớ sự tích “quả dưa đỏ” của Mai An Tiêm. Đúng giao thừa, trước khi lạy vái Tổ tiên, người chủ gia trân trọng xẻ một trái dưa ưng ý nhất để cúng ông bà. Cả nhà chứng kiến và hồi hộp chờ xem màu dưa. Hễ chín đỏ, ngon ngọt thì ngầm nghiệm là năm mới sẽ gặp vận đỏ, may mắn tốt lành. Bằng trái lại thì mạnh ai nấy buồn thầm! Đây là một trong những hình thức bói đặc thù của dân gian. Vì vậy, gặp trường hợp “buồn thầm”, các thành viên trong gia đình nghĩ ra một cách vớt vát niềm tin, bằng cách mỗi người tự xẻ thêm một trái nhỏ để nghiệm riêng cho vận số của mình.

Cây ăn trái thì chuối là đặc sản. Nhưng người ta không bao giờ cúng chuối già hương, bởi ai cũng nói lập lờ là “hổng nên”, mà chỉ cúng chuối cao hoặc chuối lá xiêm. Lý do dễ hiểu là chuối già hương mau chín, cuống bở, mùi rục, ăn không kịp, còn các loại chuối khác thì chậm chín hơn, chưng cúng đến hạ nêu vẫn không sao. Về hoa, bông vạn thọ (bông thọ) được quý chuộng nhất, vì tròn đẹp rực rỡ, đỏ hoặc vàng và nhất là do tên gọi trúng ngay một trong ba ước muốn (Phúc, Lộc, Thọ), lại trỗ đúng vào dịp Tết, nên hầu như nhà nào cũng có trồng, chí ít cũng 5, 10 cây trước sân. Dần về sau mới thấy có trồng thêm hoa mai, hoa huệ…

Còn bánh thì có hai loại chính là bánh phồng và bánh tét. Bánh phồng phải nướng lửa rơm mới thơm. Nghề truyền thống làm bánh phồng cho đến nay vẫn còn giữ và phát triển mạnh trong cả xóm, gọi “xóm bánh phồng” ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Bạn hàng các tỉnh đến mua bánh này khá tấp nập. Còn bánh tét thì chẳng những các bà, các chị gói khéo mà còn ngon, ăn đều khoái khẩu. Người “ít nói” đến mấy cũng không thể không khen. Như một loại “bánh thiêng”, nó chỉ được làm vào dịp Tết hoặc cúng giỗ nên bao giờ cũng vậy, phải “trước cúng sau ăn” chứ không ai dám tự tiện ăn trước. Nếu cần để ăn thì người ta gói bánh ú, thành phần và “nội dung” y như bánh tét, chỉ khác về hình thức mà thôi. Bánh ú là một sáng tạo mang tính nhân văn vô cùng độc đáo của người Nam Bộ.

Nhà nào cũng vậy, trong mấy ngày Tết, không thể không làm những thức ấy để cúng và cũng chỉ ăn, hoặc đãi khách những thức ấy mà thôi. Những loại khác, đắt tiền hay quý hiếm thế mấy cũng chỉ được xem là phụ (sau này, trải một thời gian khá dài thực đơn ngày Tết mới thấy có “mở rộng” hơn).

Trong ý niệm dân gian về việc đơm cúng các phẩm vật cũng như bánh, trái cây thì từ cách nghĩ “có chi cúng nấy”, chủ yếu là lòng thành. Dần về sau khi mà vườn cây ăn trái đặc sản đã phong phú, hàng hóa giao lưu đều khắp thì người bình dân nghĩ rằng, chưng cúng trái cây trong ngày Tết cần có 5 thứ gọi ngũ quả, nhưng không với ý nghĩa tượng trưng cho ngũ Phúc theo kiểu cũ (lê, lựu, đào, mai, phật thủ), mà họ cụ thể hơn về lòng mong ước đơn giản thiết thực của mình thông qua các loại trái như mảng cầu, nho, dưa, đu đủ, xoài (cầu tiền vừa đủ xài). Sau đó, vì nhu cầu đòi hỏi cuộc sống phải cao hơn và cũng nhằm thể hiện ước muốn mới, mâm ngũ quả có biến dạng đôi chút: mảng cầu, nho, đu đủ, xoài, sung.

Trên thực tế, do là xứ bốn mùa cây trái nên mâm ngũ quả thường được chưng nhiều hơn, lục, thất,…thập quả không chừng. Cho dù dùng dĩa lớn để đơm, người ta vẫn thống nhất gọi là “mâm ngũ quả”. Đáng lưu ý là trong những ngày Tết, người bình dân nhất định không dùng những loại quả có tên nghe “khó ưa” như cam sành (sần sượng), bí đao (đau yếu), hạt tiêu (“tiêu tùng”), khổ qua (khổ cho tôi - mặc dù cũng có người luận là đã qua được cảnh khổ). Còn người hay chữ thì không bao giờ dâng lên Tổ tiên trái táo mặc dù táo là “món ngon cao cấp”, nhưng do nó còn có tên là quả cức nên phải “đại kỵ” (Lê Quý Đôn trong “Vân đài loại ngữ” có dẫn lại sách “Tiểu nhĩ nhã”: “Quả cức gọi là quả táo, cửu cức là cây táo”). Rõ ràng là mê tín dị đoan, nhưng lại là một sự mê tín “hợp lý”, khá ngộ nghĩnh nên không dễ dàng đả phá.

Trên đây là một số cổ tục rất đáng được nghiên cứu, tinh chọn để bảo lưu. Nó hàm chứa một ý thức cần thiết cho vốn sống vừa đạo lý, vừa hào hùng dân tộc. Đồng thời, ăn Tết cũng là một dịp để nhắc nhớ, gần gũi, cảm thông công khó của tiền nhân, được biểu thị cao nhất trong những ngày đầu năm đầu tháng, vì theo cách hiểu của dân gian, “đầu năm sao thì mãn năm vậy”.

Cả trăm năm trước và cho đến hôm nay, phong tục ăn Tết ở miền Nam hầu như không có gì thay đổi lớn. Tất nhiên về hình thức có biến đổi, hiện đại hơn, không thể không ảnh hưởng trào lưu mới, nhất là “xu thế hội nhập”./.                                                                               

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.