Để khoa khọc cơ bản mạnh phải tháo gỡ “điểm nghẽn” nhân lực và cơ chế quản trị

VOV.VN - Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, để hiện thực hóa mục tiêu đưa đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt khoảng 2% GDP vào năm 2030, Việt Nam cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản trị khoa học, xây dựng hệ sinh thái trọng dụng nhân tài và hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng tích lũy tri thức dài hạn.

Nghiên cứu khoa học cơ bản chưa tương xứng vai trò nền tảng chiến lược

Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới, bảo đảm vừa giải quyết những điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Về nội dung này, PGS.TS Trịnh Văn Tùng, giảng viên cao cấp Viện Lãnh đạo học và Quản trị công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ ra những tồn tại cơ bản của nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam, ông đánh giá khoa học cơ bản chưa thực sự tương xứng với vai trò là nền tảng chiến lược của quốc gia.

Theo ông, một trong những biểu hiện rõ nét là tư duy ứng dụng ngắn hạn trong hoạt động nghiên cứu. Nhiều đơn vị vẫn chạy theo công bố khoa học hoặc áp dụng máy móc yêu cầu thương mại hóa đối với những nghiên cứu có bản chất tích lũy tri thức dài hạn. Việc chưa phân định rõ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực, thiếu trọng tâm và chưa hình thành được các trường phái khoa học mạnh.

“Công tác quản trị khoa học vẫn còn nặng tính hành chính. Các nhà khoa học phải dành nhiều thời gian cho hồ sơ, thủ tục, chứng từ và quy trình thay vì tập trung cho chuyên môn. Tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm trong quản lý cũng đang trở thành rào cản đối với đổi mới sáng tạo”, ông Tùng phân tích.

Một hạn chế khác là mức đầu tư cho khoa học cơ bản còn thấp và thiếu tính dài hạn. Việt Nam hiện chưa có nhiều cơ chế tài trợ ổn định từ 5-10 năm cho các nhóm nghiên cứu mạnh, đồng thời thiếu các hạ tầng chiến lược như trung tâm nghiên cứu xuất sắc, phòng thí nghiệm hiện đại, cơ sở dữ liệu lớn và hệ thống tính toán dùng chung.

Đặc biệt, nguồn nhân lực được ông Tùng đánh giá là một trong những “điểm nghẽn”. Việt Nam chưa hình thành được hệ sinh thái hoàn chỉnh để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài khoa học. Đội ngũ chuyên gia đầu ngành còn mỏng, thiếu lực lượng kế cận, trong khi tình trạng chảy máu chất xám vẫn diễn ra.

Thách thức lớn nhất là cơ chế

Đề cập mục tiêu đến năm 2030, chi cho R&D đạt khoảng 2% GDP theo định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, PGS.TS Trịnh Văn Tùng cho rằng đây là mục tiêu chiến lược nhưng cũng đầy thách thức. Theo ông, khó khăn lớn nhất không nằm ở việc huy động nguồn lực tài chính mà ở năng lực hấp thụ và cơ chế quản lý, phân bổ nguồn lực.

“Quản trị khoa học hiện vẫn nặng tư duy hành chính, quản lý bằng hồ sơ, chứng từ và dự toán theo từng năm. Điều này vừa làm lãng phí thời gian của nhà khoa học, vừa tạo ra tâm lý sợ sai, đi ngược với bản chất chấp nhận rủi ro của hoạt động nghiên cứu”, ông Tùng nhận định.

Bên cạnh đó, nguồn lực hiện còn phân tán, thiếu sự liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và chưa tập trung đầu tư cho các hạ tầng chiến lược. Nếu không đổi mới mạnh mẽ thể chế và phương thức vận hành, nguồn vốn đầu tư sẽ khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trước thực trạng nhiều đề tài nghiên cứu còn rời rạc, ngắn hạn và thiếu tính tích lũy, PGS.TS Trịnh Văn Tùng cho rằng Việt Nam rất cần cơ chế tài trợ đa niên từ 5-10 năm, thậm chí dài hơn, đối với các nhóm nghiên cứu mạnh.

“Việc lựa chọn các nhóm nghiên cứu cần dựa trên nguyên tắc “8 đúng, 1 không”, gồm: đúng người, đúng hướng, đúng trọng tâm, đúng tầm chiến lược, đúng cơ chế, đúng chỗ, đúng nguồn lực, đúng cách làm và “không phán xét”, PGS Tùng đề xuất.

Theo đó, các nhóm nghiên cứu phải có năng lực giải quyết những bài toán lớn của đất nước, tạo ra không gian học thuật khai phóng, bảo vệ tự do nghiên cứu và khuyến khích các ý tưởng đột phá. Ngoài ra, các nhóm được tài trợ cần chứng minh khả năng làm chủ công nghệ lõi, tạo ra tri thức mới, xây dựng đội ngũ kế cận và hình thành các trường phái khoa học đặc sắc của Việt Nam.

Nguyên nhân vì sao Việt Nam chưa có nhiều chuyên gia đầu ngành có tầm ảnh hưởng quốc tế, PGS.TS Trịnh Văn Tùng cho rằng nguyên nhân cốt lõi là thiếu một hệ sinh thái trọng dụng nhân tài đồng bộ. Theo ông, nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu hiện quá chú trọng công bố quốc tế nhằm phục vụ mục tiêu xếp hạng, dẫn tới nguy cơ xuất hiện “bệnh thành tích mới”, trong khi chưa đầu tư tương xứng cho những nghiên cứu mang tính tích lũy tri thức lâu dài.

Ông cũng cho rằng việc tiếp cận tri thức quốc tế còn chưa đa dạng. Sự tập trung quá lớn vào nguồn tài liệu tiếng Anh khiến việc học hỏi kinh nghiệm từ các nền khoa học mạnh như Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức hay Nhật Bản chưa được khai thác đầy đủ.

“Những rào cản này, cùng với tư duy quản lý hành chính và thiếu cơ chế bảo vệ tự do học thuật, đang làm suy giảm khả năng hình thành các trường phái khoa học Việt Nam có vị thế quốc tế”, ông nói.

Khoa học xã hội và nhân văn là “la bàn” cho phát triển quốc gia

Dưới góc nhìn lãnh đạo học và quản trị công, PGS.TS Trịnh Văn Tùng nhấn mạnh cần định vị lại vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại.

Theo ông, khoa học xã hội và nhân văn không chỉ ngang hàng mà còn đóng vai trò “la bàn” định hướng cho khoa học công nghệ. Đây là lĩnh vực cung cấp nền tảng cho xây dựng thể chế, năng lực lãnh đạo, hoạch định chính sách và dự báo chiến lược.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, già hóa dân số, biến động xã hội và cạnh tranh địa chính trị ngày càng gia tăng, khoa học xã hội và nhân văn có vai trò quan trọng trong quản trị xã hội số, xây dựng đạo đức công nghệ, hoạch định chính sách an sinh và củng cố sức mạnh mềm quốc gia.

“Chúng ta có thể nhập khẩu công nghệ nhưng không thể nhập khẩu một mô hình phát triển phù hợp với lịch sử, văn hóa và đặc thù dân tộc. Vì vậy, đầu tư cho khoa học xã hội và nhân văn cần được coi là đầu tư chiến lược cho năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới”, PGS.TS Trịnh Văn Tùng nhấn mạnh.

ts_ha_thi_quyen_dang_huong_dan_sinh_vien_thuc_hanh_tai_phong_thi_nghiem_cua_khoa_cong_nghe_nong_nghiep_truong_dh_cong_nghe.jpg

Khoa học cơ bản và tầm nhìn chiến lược từ kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước

VOV.VN - Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về nghiên cứu khoa học cơ bản đang tạo nhiều kỳ vọng trong giới nghiên cứu, khi nhấn mạnh vai trò của khoa học nền tảng như một “năng lực chiến lược quốc gia”, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, tháo gỡ điểm nghẽn để tạo đột phá phát triển đất nước.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Phát huy tự quản cộng đồng trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp
Phát huy tự quản cộng đồng trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

VOV.VN - Các chuyên gia đề xuất Hà Nội tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị cộng đồng, phát huy vai trò tự quản của người dân và bảo đảm phù hợp với đặc thù từng địa bàn trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.

Phát huy tự quản cộng đồng trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

Phát huy tự quản cộng đồng trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

VOV.VN - Các chuyên gia đề xuất Hà Nội tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị cộng đồng, phát huy vai trò tự quản của người dân và bảo đảm phù hợp với đặc thù từng địa bàn trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.

Cần đánh giá thực tiễn khi tinh gọn thôn, tổ dân phố ở Hà Nội
Cần đánh giá thực tiễn khi tinh gọn thôn, tổ dân phố ở Hà Nội

VOV.VN - “Cần xác định rõ “đặc thù Thủ đô” làm căn cứ xây dựng cơ chế riêng, đồng thời bổ sung ý kiến từ các sở, ngành để tăng tính thuyết phục khi trình Hội đồng nhân dân thành phố”, chuyên gia kiến nghị.

Cần đánh giá thực tiễn khi tinh gọn thôn, tổ dân phố ở Hà Nội

Cần đánh giá thực tiễn khi tinh gọn thôn, tổ dân phố ở Hà Nội

VOV.VN - “Cần xác định rõ “đặc thù Thủ đô” làm căn cứ xây dựng cơ chế riêng, đồng thời bổ sung ý kiến từ các sở, ngành để tăng tính thuyết phục khi trình Hội đồng nhân dân thành phố”, chuyên gia kiến nghị.