Hướng dẫn rà soát vị trí việc làm trong các cơ quan của Đảng, MTTQ Việt Nam
VOV.VN - Ban Tổ chức Trung ương ban hành Hướng dẫn số 06-HD/BTCTW ngày 11/10 “một số nội dung về vị trí việc làm công chức, viên chức, bản mô tả công việc, khung năng lực và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội”.
Một trong những yêu cầu trọng tâm của Hướng dẫn số 06 là rà soát, cập nhật bản mô tả công việc. Theo đó, mỗi vị trí việc làm lập một bản mô tả gắn với quyết định danh mục đã ban hành; trong đó xác định mục tiêu của vị trí, nhóm công việc thường xuyên, công việc đặc thù, sản phẩm, yêu cầu chất lượng, trách nhiệm, quyền hạn, quan hệ công tác, điều kiện thực hiện, tiêu chuẩn và khung năng lực. Một vị trí việc làm có thể bố trí nhiều công chức; không lập lại bản mô tả theo từng người.
Việc mô tả xuất phát từ nhiệm vụ được giao, sau đó xác định công việc và sản phẩm; phân biệt công việc chủ trì với phối hợp, sản phẩm cuối cùng với tài liệu trung gian.
Đối với công việc nghiên cứu, tham mưu chiến lược, ghi rõ mức độ độc lập, nội dung chủ trì, trách nhiệm đối với căn cứ và phương án.
Mỗi công việc phải xác định rõ căn cứ giao nhiệm vụ và thể hiện: sản phẩm phải hoàn thành, thành phần bắt buộc, tiêu chí chất lượng, thời hạn hoặc tần suất, cơ quan, đơn vị hoặc người tiếp nhận và tài liệu chứng minh kết quả. Tiêu chí phải thuộc trách nhiệm của vị trí; đối với nhiệm vụ phối hợp, xác định rõ phần việc và sản phẩm đóng góp
Khung năng lực của vị trí việc làm công chức gồm ba nhóm: năng lực chung; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực lãnh đạo, quản lý đối với vị trí có chức trách lãnh đạo, quản lý. Các yêu cầu đặc thù về xây dựng Đảng, dân vận, Mặt trận, kiểm tra, giám sát, bảo mật và chuyển đổi số được cụ thể hóa trong các nhóm năng lực phù hợp, không hình thành nhóm năng lực riêng.
Cấp độ năng lực được xác định theo thang từ 1 đến 5, căn cứ vào mức độ độc lập, tính chất phức tạp, trách nhiệm chủ trì, phạm vi ảnh hưởng và yêu cầu kiểm soát chất lượng.
Theo đó, cấp độ 1 gắn với thực hiện phần việc đơn giản theo hướng dẫn; cấp độ 2 gắn với tự thực hiện công việc thường xuyên theo quy trình, tiêu chuẩn đã rõ; cấp độ 3 thể hiện khả năng phân tích, xử lý độc lập công việc chuyên môn và chịu trách nhiệm về sản phẩm; cấp độ 4 gắn với chủ trì công việc phức tạp, nhiều cơ quan phối hợp; hướng dẫn và kiểm soát chất lượng; cấp độ 5 gắn với định hướng chuyên môn, giải quyết vấn đề mới có phạm vi ảnh hưởng lớn hoặc tính chiến lược.
Cấp độ phải dựa vào yêu cầu của vị trí việc làm, không căn cứ duy nhất vào trình độ, thâm niên, ngạch hiện giữ hoặc năng lực thực tế của người đang đảm nhiệm. Chỉ xác định mức 4 - 5 khi có nhiệm vụ, quyền hạn và sản phẩm tương ứng; không vì cơ quan được giao một đề án lớn trong một thời điểm mà mặc nhiên nâng toàn bộ vị trí việc làm.
Nguyên tắc xác định cơ cấu, tỉ lệ ngạch công chức
Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương nêu rõ nguyên tắc xác định cơ cấu, tỉ lệ ngạch công chức.
Trong đó, cơ cấu ngạch được xác định trên cơ sở tính chất nhiệm vụ, độ phức tạp, sản phẩm, quyền hạn và phạm vi ảnh hưởng, trong tổng biên chế công chức được giao. Việc xây dựng cơ cấu ngạch được thực hiện đồng thời với việc rà soát, hoàn thiện danh mục, bản mô tả và khung năng lực vị trí việc làm, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Không dựa vào tỉ lệ công chức đang giữ ngạch, tuổi hoặc thâm niên để hợp thức hóa hiện trạng.
Ngạch yêu cầu của vị trí việc làm chuyên môn: chuyên viên cao cấp và tương đương gắn với thường xuyên chủ trì tham mưu chiến lược, đề án quan trọng hoặc vấn đề đặc biệt phức tạp, phạm vi ảnh hưởng rộng.
Chuyên viên chính và tương đương gắn với chủ trì tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra và xử lý công việc phức tạp. Chuyên viên và tương đương trực tiếp tham mưu, tổng hợp, thực hiện nhiệm vụ. Vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý xác định theo vị trí, thẩm quyền và tiêu chuẩn tương ứng.
Hướng dẫn cũng nêu rõ, trần tỉ lệ là giới hạn tối đa, không phải chỉ tiêu phải bố trí hết. Mỗi đơn vị lập một phương án tỉ lệ ngạch theo mẫu số nhất quán, phân loại nhóm cơ quan trước khi tính. Tổng tỉ lệ thực tế của các ngạch trong phạm vi tính phải bằng 100%; số lượng là số nguyên và trường hợp có phần thập phân của mức trần được làm tròn xuống. Tỉ lệ cấp có thẩm quyền quyết định có thể thấp hơn mức tối đa.
Mẫu số tính tỉ lệ là tổng biên chế công chức được giao cho từng vụ, cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi tính, sau khi trừ số biên chế bố trí tại các vị trí được loại trừ theo cấp có thẩm quyền quy định. Vị trí lãnh đạo, quản lý khác nằm trong phạm vi tính thì chỉ tính một lần tại ngạch tương ứng.
Lập danh sách vị trí và số biên chế thuộc diện loại trừ, ghi rõ căn cứ áp dụng. Số biên chế này được thống kê riêng, không tính vào tử số và mẫu số. Tổng số biên chế thuộc phạm vi tính và số biên chế loại trừ phải khớp với tổng biên chế được giao.
Hướng dẫn nêu rõ, khi cơ cấu đã giao chưa phù hợp phải lập phương án chuyển tiếp, bố trí lại, đào tạo, bồi dưỡng và sắp xếp trong biên chế, không tự thay đổi ngạch của người đang đảm nhiệm chỉ từ bảng tính tỉ lệ. Cơ quan đề xuất chịu trách nhiệm về mẫu số, phân loại đơn vị và căn cứ ngạch của vị trí việc làm; cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chịu trách nhiệm về tỉ lệ cụ thể.