Khơi thông điểm nghẽn “nói nhiều làm ít, nói hay làm dở”
VOV.VN - Ở khâu thực thi, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đáng cho rằng việc thiết kế "6 rõ" cùng bản lĩnh hành động đến cùng của đội ngũ cán bộ, người đứng đầu sẽ là chìa khóa để đưa các quyết sách Đại hội XIV đi nhanh vào cuộc sống.
Không để mất cơ hội phát triển đất nước
PV: Phát biểu tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, “điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi” và yêu cầu “phải chuyển ngay sự thống nhất về chủ trương thành thống nhất trong hành động”, "biến tốc độ ban hành thành tốc độ thực hiện, biến quyết tâm chính trị thành chuyển biến thực chất, kết quả cụ thể". Theo ông, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta nên hiểu như thế nào về những quan điểm chỉ đạo nêu trên?
TS Nguyễn Văn Đáng: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã khẳng định những mục tiêu đầy thách thức: Đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để hiện thực hóa được những mục tiêu đó, chúng ta phải nỗ lực trên nhiều phương diện, then chốt nhất là phải duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong những năm sắp tới đạt 10%/năm trở lên.
Tăng trưởng kinh tế phải giúp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của số đông người dân, thành quả tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng để tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững. Vì thế, những quan điểm nêu trên rất nhất quán với tinh thần, thông điệp xuyên suốt trong các bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ Đại hội XIV cho đến hiện nay, đó là phải hành động quyết liệt, thực chất và hiệu quả để hiện thực hóa các quyết sách của Đảng.
Văn kiện Đại hội XIV đã không né tránh khi đề cập đến một thực tế ở nước ta bấy lâu nay, đó là hiện tượng “nói nhiều làm ít”, “nói hay, làm dở”, “nói không đi đôi với làm”, lối làm việc quan liêu, hình thức. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 7/2/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng “yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là khẳng định con đường đổi mới đúng đắn, mà quan trọng hơn là phải đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt và sâu rộng hơn về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng, và đặc biệt là trong năng lực tổ chức thực hiện. Điểm nghẽn căn bản nhất hiện nay không nằm ở đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành kết quả phát triển cụ thể”.
Tương tự, ngày 12/4/2026, trong bài trả lời phỏng vấn “Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã rất khách quan và thẳng thắn khi nêu rõ “điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm ở chỗ thiếu đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành chuyển biến phát triển cụ thể. Hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng thực thi chính sách ở một số nơi vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước”.
Do đó, yêu cầu đang đặt ra với cả hệ thống chính trị nước ta là phải nhanh chóng và quyết liệt chuyển thật mạnh từ “nhận thức đúng” sang “triển khai hiệu quả”, từ “ban hành chủ trương” sang “tạo ra sản phẩm và kết quả thực tế”. Bởi lẽ, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, “nếu chúng ta để lãng phí dù chỉ một khoảng thời gian ngắn vì chần chừ, né tránh, làm việc theo lối cũ hoặc trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm thì cái giá phải trả ít nhất là đánh mất cơ hội phát triển của cả dân tộc”.
PV: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng yêu cầu việc xây dựng Chương trình hành động của từng cấp phải rõ “nguồn lực, lộ trình, sản phẩm và trách nhiệm thực hiện”. Theo ông, các địa phương, cơ quan, đơn vị cần triển khai như thế nào để tránh căn bệnh "nghị quyết chung chung, kế hoạch hình thức"?
TS Nguyễn Văn Đáng: Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định rất đúng những nguyên nhân cụ thể, sâu xa dẫn đến “điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi”. Đó là “thẩm quyền có nơi chưa đi liền trách nhiệm; phân cấp chưa gắn đủ với nguồn lực, dữ liệu, công cụ, năng lực cán bộ và kiểm soát; nguồn lực còn chia cắt”.
Vì vậy, chúng ta phải hành động thống nhất và toàn diện, “phải xử lý từ nguyên nhân gốc, đồng bộ trên cả thể chế, tổ chức, con người và phương thức lãnh đạo, quản trị; gắn xây dựng Đảng với quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”.
Yêu cầu đặt ra là “Năng lực thực thi phải được thiết kế ngay trong mỗi quyết sách. Mỗi nhiệm vụ phải rõ cơ quan chủ trì, đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, điều kiện thực hiện, thời hạn và sản phẩm; kiểm tra, giám sát thường xuyên để cảnh báo, điều chỉnh kịp thời. Không giao nhiệm vụ mà không xác định rõ điều kiện thực hiện; không phân cấp mà thiếu kiểm soát; không để trách nhiệm hòa tan trong phối hợp”.
Trước đó, ngày 7/2/2026, yêu cầu “rõ ràng, cụ thể, trách nhiệm, minh bạch, chặt chẽ” cũng đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu bật trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Theo đó, chúng ta phải bảo đảm “mọi chương trình hành động phải được thiết kế trên cơ sở mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể, phân công trách nhiệm minh bạch và cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ.
Trong bài trả lời phỏng vấn, ngày 12/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu cụ thể hơn về “6 rõ”, đó là: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, và rõ kết quả”, đồng thời “mọi chương trình, đề án, dự án lớn đều phải xác định rõ mục tiêu, tiến độ, người chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát”.
Với những yêu cầu rất thuyết phục đó, nếu nỗ lực thực hiện tốt, chúng ta có thể giảm thiểu nguy cơ các kế hoạch hành động và quá trình thực hiện hình thức, quan liêu, tránh được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “đúng về tinh thần nhưng tắc ở khâu thực hiện”, thực thi kém nhưng rồi lại “lấy tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân”.
Lắng nghe dân, phục vụ dân
PV: Về xây dựng các kế hoạch hành động, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu phải "sâu sát, nắm được hơi thở, nhịp sống của địa bàn"; phải "xuất phát từ thực tiễn, không rập khuôn, máy móc". Theo ông, những yêu cầu này chuyển thông điệp gì đến với đội ngũ cán bộ hiện nay, đặc biệt là với người đứng đầu?
TS. Nguyễn Văn Đáng: Hoạt động quản trị thực thi không bị giới hạn trong khuôn khổ thể chế chính thức, mà đòi hỏi khả năng thích ứng bối cảnh, ứng biến với những đặc điểm cụ thể về trình độ phát triển, truyền thống lịch sử và văn hóa, thói quen tư duy và thông lệ xã hội của từng địa bàn. Quản trị thực thi “tốt” sẽ giúp chủ trương, chính sách được triển khai đồng bộ, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng đúng nhu cầu của các nhóm đối tượng trong những bối cảnh quản trị cụ thể, gia tăng khả năng giải quyết vấn đề và đạt được các mục tiêu theo tiến độ, kế hoạch đã đề ra.
Vì thế, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu đặt ra với đội ngũ cán bộ hiện nay “không chỉ là có phẩm chất và năng lực chung, mà phải có bản lĩnh thực thi, có tư duy hành động thực chất, có khả năng tổ chức công việc đến cùng và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. “Người lãnh đạo phải sâu sát thực tiễn, hiểu địa bàn, lĩnh vực phụ trách, kịp thời nhận diện và giải quyết vấn đề”.
Chúng ta có thể hoàn toàn đồng tình với quan điểm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rằng: “Giá trị của Nghị quyết phải thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân”. Vì vậy, trong bối cảnh đổi mới hiện nay, để bám sát thực tiễn và quản trị thực thi tốt thì việc lắng nghe doanh nghiệp và nhân dân, tiếp thu, chuyển hóa những ý kiến đúng đắn thành hành động của các cơ quan chính quyền là rất cần thiết. Bởi lẽ, sự tham gia của người dân, đáp ứng đúng nhu cầu của các nhóm dân cư và doanh nghiệp là hai trong số những tiêu chí then chốt của quản trị quốc gia hiện đại, quản trị thực thi tốt.
Quán triệt những quan điểm chỉ đạo nêu trên, cán bộ và công chức các cấp phải “thường xuyên lắng nghe Nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia, cán bộ cơ sở; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách”, phải “lắng nghe phản biện có cơ sở”. Ý thức tôn trọng người dân, doanh nghiệp, tinh thần lắng nghe cầu thị và sẵn sàng tiếp thu những ý kiến đúng đắn, có cơ sở vững chắc sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa ý chí của chính quyền và nhu cầu, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể khẳng định trên thực tế quyền làm chủ của nhân dân và nhân dân là đối tượng phục vụ của các quyết sách.
PV: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh, việc thực thi các quyết sách phải coi “kết quả thực tế và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là căn cứ chủ yếu để đánh giá tổ chức, cán bộ; là thước đo hiệu quả hoạt động của cả hệ thống”, phải “đặt lợi ích lâu dài của đất nước, cuộc sống của nhân dân ở vị trí cao nhất”. Theo ông, những quan điểm như vậy phản ánh sự thay đổi thế nào về phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới hiện nay?
TS. Nguyễn Văn Đáng: Nói đến thực thi chủ trương, chính sách, hay bấy lâu nay chúng ta hay nói “đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống”, có nghĩa là quá trình triển khai các chủ trương, chính sách bởi các cơ quan trong cả hệ thống chính trị, mọi hoạt động diễn ra sau khi các chủ trương, chính sách được chính thức ban hành.
Đại hội XIV đã thể hiện tinh thần hành động quyết liệt khi xác định 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, đồng thời xây dựng Chương trình hành động với những nhiệm vụ có thể triển khai ngay. Vấn đề sau Đại hội là chúng ta thực hiện các kế hoạch hành động đó như thế nào? đo lường kết quả và đánh giá tác động ra sao?
Các nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương, những bài viết, phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước thời gian gần đây đã thể hiện quan điểm thực chứng rất rõ ràng, mạnh mẽ. Đây không hẳn là những nét hoàn toàn mới nhưng được nhấn mạnh hơn, nêu bật hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng. Theo đó, lãnh đạo quá trình thực hiện chủ trương, chính sách phải dựa trên bằng chứng thực tế, kiến giải khoa học, thể hiện qua những kế hoạch hành động chi tiết, thống kê những kết quả cụ thể và đánh giá những tác động từ các kết quả đó.
Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh rất đúng đắn, ngày 7/2/2026, trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: chúng ta phải “chuyển mạnh từ phương thức “quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính” sang “quản trị dựa trên kết quả”; từ đánh giá bằng “báo cáo hình thức” sang đánh giá bằng “sản phẩm phát triển cụ thể” và “tác động xã hội” thực chất. Kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn bộ hệ thống chính trị, chấm dứt tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết”.
Chúng ta cũng phải “thay đổi thước đo đánh giá. Không thể tiếp tục lấy độ dày của báo cáo hay số lượng cuộc họp làm căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đánh giá một tổ chức, một cán bộ phải nhìn vào sản phẩm phát triển cụ thể, vào tiến độ công việc, vào hiệu quả xã hội, vào mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Mọi chương trình hành động đều phải được lượng hóa, đo lường được và có lộ trình rõ ràng”.
Nếu cả hệ thống chính trị cùng nhận thức và hành động như vậy thì chúng ta sẽ giảm thiểu khoảng cách giữa chủ trương với thực tế, khắc phục được những bất cập về thực thi, không để hạn chế về năng lực thực thi trở thành rào cản các quyết sách phát triển.
PV: Xin cảm ơn ông!