Lê Quý Đôn: Biểu tượng của trí tuệ, học vấn và khát vọng cống hiến vì đất nước
VOV.VN - Lê Quý Đôn là nhà bác học kiệt xuất của Việt Nam thế kỷ XVIII, người để lại dấu ấn sâu sắc trên nhiều lĩnh vực như chính trị, triết học, giáo dục, văn hóa và khoa học. Di sản học thuật đồ sộ cùng tư tưởng vì nước, vì dân của ông đã góp phần làm giàu nền văn hiến dân tộc và còn nguyên giá trị đến hôm nay.
Tấm lòng đau đáu vì nước, vì dân
Cả cuộc đời học hành và làm quan, Lê Quý Đôn luôn thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, thương dân và ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, dân tộc. Với ông, việc học tập, nghiên cứu, làm quan hay các trước tác đều không nhằm mưu cầu danh lợi cá nhân mà trước hết để góp phần xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân và vì sự hưng thịnh lâu dài của quốc gia.
Đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau trong triều đình, đi công cán ở nhiều nơi, Lê Quý Đôn luôn quan tâm đến các vấn đề dân sinh, kinh tế, giáo dục, quản lý xã hội và bảo vệ chủ quyền đất nước bởi ông luôn quan niệm, sự thịnh suy của đất nước gắn liền với đời sống của nhân dân. Những khảo cứu, kiến nghị và đề xuất của ông đều hướng tới mục tiêu phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, khai thác hiệu quả tiềm năng của đất nước và tăng cường sức mạnh quốc gia. Ông luôn đề cao trách nhiệm của người làm quan, cho rằng người làm quan không chỉ bàn việc triều chính mà phải trực tiếp chăm lo đời sống của nhân dân, đem hết tâm lực thực hiện chức trách được giao. Tinh thần “dĩ công vi thượng”, lấy lợi ích của quốc gia và nhân dân làm mục tiêu phụng sự đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Nhà tư tưởng lớn:
Lê Quý Đôn không chỉ uyên bác trong học thuật mà quan điểm, luận giải của ông trên các lĩnh vực đã phản ánh trình độ tư duy vượt trước thời đại. Ông có một hệ thống tư tưởng sâu sắc, là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XVIII.
Về triết học: Lê Quý Đôn có những đóng góp quan trọng trong việc lý giải thế giới và quy luật vận động của tự nhiên, xã hội. Từ quan niệm lý - khí, ông khẳng định sự vận động không ngừng là điều kiện tồn tại và phát triển của vạn vật. Những luận giải trong Vân đài loại ngữ thể hiện tư duy quan sát thực tiễn, phân tích và nhận thức sâu sắc về sự vận động của tự nhiên, xã hội, đánh dấu bước phát triển mới của tư tưởng triết học Việt Nam đương thời.
Về chính trị - xã hội: Lê Quý Đôn luôn khẳng định Đại Việt là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có lịch sử lâu đời và nền văn hiến đặc sắc. Ông đề cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức tự cường và trách nhiệm gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống, là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt trong nhiều trước tác của ông.
Lê Quý Đôn luôn đề cao vai trò của nhân dân, coi “dân là gốc của nước”, nhấn mạnh trách nhiệm của người cầm quyền đối với đời sống nhân dân và sự hưng vong của quốc gia. Ông chủ trương kết hợp đức trị với pháp trị, đề cao sự công minh, trách nhiệm và tính nêu gương của đội ngũ quan lại. Những quan điểm đó thể hiện tư duy tiến bộ, góp phần làm phong phú tư tưởng chính trị Việt Nam thế kỷ XVIIІ.
Nhà bác học lớn, nhà nghiên cứu đa ngành:
Với khối lượng trước tác đồ sộ và phạm vi nghiên cứu trải rộng trên nhiều lĩnh vực như triết học, lịch sử, địa lý, văn học, giáo dục, kinh tế, xã hội, nghệ thuật, nông nghiệp, thiên văn, lịch pháp, y học,... Lê Quý Đôn được xem là hình mẫu tiêu biều của một nhà bác học bách khoa.
Đóng góp nổi bật của Lê Quý Đôn là khả năng hệ thống hóa, tổng kết và phát triển tri thức của thời đại. Các công trình như Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Quần thư khảo biện, Phủ biên tạp lục không chỉ phản ánh vốn hiểu biết uyên thâm mà còn thể hiện năng lực tư duy tổng hợp, phân tích và khái quát khoa học xuất sắc. Đặc biệt, Vân đài loại ngữ được đánh giá là bộ bách khoa thư tiêu biều của Việt Nam thời phong kiến.
Một giá trị nổi bật khác là phương pháp nghiên cứu khoa học nghiêm cấn. Lê Quý Đôn luôn kết hợp giữa khảo sát thực tiễn, thu thập tư liệu, đối chiếu nguồn sử liệu và kiểm chứng thông tin trước khi đưa ra nhận định. Tư duy thực chứng ấy đã góp phần nâng cao chất lượng học thuật trong các công trình nghiên cứu của ông.
Nhà giáo dục
Lê Quý Đôn chủ trương giáo dục phải hướng tới sự phát triển toàn diện con người, kết hợp giữa tri thức, đạo đức, nhân cách và năng lực thực hành. Theo ông, học không chỉ để thi cử hay cầu danh mà trước hết là để hoàn thiện bản thân, phụng sự và đóng góp cho sự hưng thịnh của đất nước. Ông đặc biệt phê phán lối học hư văn, giáo điều, xa rời thực tiễn; đồng thời đề cao thực học, thực hành và khả năng vận dụng tri thức vào cuộc sống. Những quan niệm như “đọc sách một thước không bằng làm được một tấc" hay "đọc được một chữ đem áp dụng một chữ” thể hiện rõ tư tưởng học đi đôi với hành, coi hiệu quả thực tiễn là thước đo giá trị của việc học. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của tự học, học tập suốt đời và tinh thần cầu thị trong tiếp nhận tri thức.
Bản thân Lê Quý Đôn là tấm gương tiêu biểu về ý chí học tập bền bỉ, lao động khoa học nghiêm túc và khát vọng khám phá tri thức không ngừng nghỉ. Đặc biệt, Lê Quý Đôn rất coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài bởi theo ông, sự hưng thịnh của quốc gia gắn liền với việc trọng dụng người có đức, có tài và có khả năng cống hiến cho xã hội.
Nhà văn hóa lớn
Một trong những cống hiến nổi bật của Lê Quý Đôn là sưu tầm, khảo cứu, hệ thống hóa và lưu truyền kho tàng tri thức, văn hóa của dân tộc. Ông đã dành nhiều tâm huyết ghi chép, đối chiếu và tổng kết các nguồn tư liệu, qua đó lưu giữ nhiều di sản quý báu của đất nước. Thông qua các công trình như Toàn Việt thi lục, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngũ, Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã để lại một khối lượng lớn tư liệu về lịch sử, địa lý, văn học, phong tục, tập quán, sản vật, đời sống xã hội Việt Nam... Nhiều tư liệu có giá trị về lịch sử và văn hóa dân tộc được bảo tồn và truyền lại cho hậu thế thông qua các công trình khảo cứu của ông. Qua các trước tác của mình, Lê Quý Đôn luôn đề cao truyền thống lịch sử lâu đời, bản lĩnh tự chủ và những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Di sản học thuật của ông góp phần làm sâu sắc nhận thức về nền văn hiến Đại Việt, bồi đắp ý thức trân trọng, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc qua nhiều thế hệ.
Sứ thần tiêu biểu của Đại Việt
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đi sứ, Lê Quý Đôn không chỉ hoàn thành trọng trách ngoại giao mà còn tranh thủ tìm hiều, khảo cứu và tiếp thu những thành tựu mới về học thuật, khoa học và văn hóa của thời đại. Những ghi chép trong Bắc sứ thông lục phản ánh tầm nhìn rộng mở, khả năng quan sát sắc sảo và tinh thần học hỏi không ngừng của một học giả lớn. Với vốn học vấn uyên thâm, khả năng ứng đối xuất sắc và tầm hiều biết sâu rộng về lịch sử, văn hóa, chính trị, hoạt động ngoại giao của Lê Quý Đôn không chỉ góp phần tăng cường quan hệ bang giao của đất nước mà còn mở rộng không gian giao lưu học thuật, văn hóa giữa Đại Việt với các nước trong khu vực, góp phần nâng cao vị thế của đất nước.
Điều nổi bật ở Lê Quý Đôn là sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và tư duy cởi mở trong giao lưu văn hóa; chủ động tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của thời đại để làm giàu cho tri thức và văn hóa dân tộc.
Lê Quý Đôn (1726-1784), tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, sinh ra trong gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên).
Ghi nhận, tôn vinh những công lao, đóng góp, cống hiến của Lê Quý Đôn cho nền văn hóa Việt Nam và thế giới, tại phiên họp Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) lần thứ 43 diễn ra vào ngày 31/10/2025 tại Samarkand, Cộng hòa Uzbekistan đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn.