New Zealand cần sẵn sàng tương tác với Việt Nam với tư cách là cường quốc kinh tế

VOV.VN - Nhận lời mời của Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có chuyến thăm cấp Nhà nước đến New Zealand từ ngày 12/8 đến ngày 14/8. Chuyến thăm là dấu mốc mới trong quan hệ giữa hai nước và đặt nền móng cho tương lai của mối quan hệ này.

Nhân dịp này, phóng viên VOV đã phỏng vấn cựu Đại sứ New Zealand tại Việt Nam, ông James Kember để tìm hiểu về sự phát triển của mối quan hệ song phương trong những năm qua và tác động của chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới mối quan hệ này trong thời gian tới.

PV: Thưa ông, năm ngoái, Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon đã thăm Việt Nam vào dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Trước đó, vào năm 2024, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính cũng đã thăm New Zealand. Và lần này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới thăm New Zealand. Theo ông, việc hai nước thường xuyên trao đổi đoàn cấp cao phản ánh điều gì về mối quan hệ song phương và sự tin tưởng chính trị trong bối cảnh quan hệ hai nước đã nâng cấp lên Đối tác Chiến lược toàn diện?

Cựu Đại sứ James Kember: Rõ ràng chuyến thăm này có nhiều mục đích nhưng trước hết nó thể hiện sự công nhận tầm quan trọng của quan hệ song phương, đồng thời gửi đi tín hiệu rằng, thông qua chuyến thăm này, hai nước kỳ vọng nhiều hơn vào tương lai. Có thể nói chuyến thăm này là đỉnh cao của toàn bộ các hoạt động trao đổi đoàn giữa hai nước từ chính quyền tới tổ chức phi chính phủ hay giới kinh doanh - đầu tư.

Tôi nhớ lại thời kỳ làm Đại sứ New Zealand tại Việt Nam, nhiệm kỳ của tôi được mở đầu bằng chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến New Zealand vào năm 2007 và sau đó cuối nhiệm kỳ là chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh.

Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh là chuyến thăm New Zealand đầu tiên của một Tổng Bí thư của Việt Nam và đó cũng là thời điểm hai nước ký Hiệp định Đối tác toàn diện. Vì vậy, tôi thấy rằng những chuyến thăm như thế này và cả các chuyến thăm của Thủ tướng hay cấp Bộ trưởng của hai nước đều là các hoạt động quan trọng, tạo động lực cho mối quan hệ vốn diễn ra ở nhiều cấp độ.

PV: Nếu so sánh quan hệ song phương giữa hai nước ở thời điểm ông làm Đại sứ New Zealand tại Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2009, ông thấy quan hệ hai nước đã thay đổi như thế nào?

Cựu Đại sứ James Kember: Năm 1975, khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, Thủ tướng New Zealand Wallance Rowling đã nói rằng, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia quan trọng nhất ở Đông Dương và có khả năng có tầm ảnh hưởng lớn trong tương lai của khu vực. Giờ đây, khi nhìn lại, tôi thấy thật tuyệt vời khi tiềm năng của mối quan hệ song phương đã được nhận ra ngay từ thời điểm đó. Tất nhiên, mối quan hệ này cần thời gian để phát triển và trưởng thành.

Và khi nhìn lại những năm tháng tôi công tác ở Hà Nội, trọng tâm của chúng tôi khi đó là viện trợ phát triển, quan hệ thương mại, giáo dục, hợp tác quốc phòng, nhưng đó cũng là thời điểm Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế. Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 khi tôi còn ở đó. Khi đó, Việt Nam cũng đang chuẩn bị cho nhiệm kỳ đầu tiên với tư cách là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, và tất nhiên, sau đó các bạn đã có nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2020 - 2021.

Gần cuối nhiệm kỳ của tôi là việc ký kết Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia - New Zealand. Đó là khởi đầu của một giai đoạn mới. Trong những năm qua, chúng ta đã chứng kiến ​​các chuyến thăm của Thủ tướng hai nước vào năm 2015, đó là chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng John Key, và đó là thời điểm mà quan hệ thương mại của chúng ta trị giá khoảng 1 tỷ NZD, trong đó Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 22 của New Zealand.

Đến nay, mọi thứ đã phát triển hơn nhiều. Vào năm 2020, chúng ta đã thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược. Kim ngạch thương mại đã đạt 2 tỷ NZD. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 16 của New Zealand. Thủ tướng hai nước là Thủ tướng Jacinda Ardern và Thủ tướng Phạm Minh Chính đã trao đổi chuyến thăm lẫn nhau vào năm 2024 và đến lúc đó, Việt Nam đã là đối tác thương mại lớn thứ 14 của New Zealand. Thực tế này cho thấy, quan hệ giữa hai nước đang phát triển, vượt ra ngoài phạm vi trao đổi thương mại.

Giờ đây, quan hệ giữa hai nước còn liên quan đến cộng đồng người Việt tại New Zealand, đến sự phát triển của mối liên kết giữa người dân hai nước. Tôi nhớ rằng, kể từ năm 2009, khi bắt đầu đối thoại giữa Học viện Ngoại giao Việt Nam và Quỹ Châu Á - New Zealand, chúng ta đã có những cuộc trao đổi thường xuyên, ngày càng thẳng thắn và sâu sắc hơn. Vì vậy, tất cả điều này đã thực sự hiện thực hóa thỏa thuận hợp tác giữa hai nước.

PV: Trong cuộc điện đàm giữa Thủ tướng Việt Nam Lê Minh Hưng vào tháng 5/2026, Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon có nói rằng, Việt Nam là một trong những đối tác hàng đầu của New Zealand và nước này muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam. Ông có thể giải thích rõ hơn về vị trí của Việt Nam trong chính sách ngoại giao của New Zealand? Quan hệ chặt chẽ với Việt Nam sẽ đóng góp như thế nào vào sự phát triển của New Zealand?

Cựu Đại sứ James Kember: Tôi xin quay lại với điều tôi đã nói về nhận định rằng, Việt Nam đang ở vị thế lãnh đạo trong khu vực. Việt Nam có quy mô dân số lớn. Việt Nam có tầm ảnh hưởng, có trình độ tri thức cao, có sức trẻ và sự năng động, và tất nhiên, trên hết, động lực khu vực đã thay đổi. Chúng tôi kỳ vọng Việt Nam sẽ là một lực lượng thực sự cho sự ổn định, cho an ninh, an ninh cả theo nghĩa truyền thống của từ này, cho môi trường, và cùng với việc cùng nhau bảo vệ tài nguyên của mình, chúng ta phải bảo vệ tự do hàng hải. Trên biển cả, chúng ta phải giải quyết những thách thức của các hành vi bất hợp pháp. Vì vậy, có rất nhiều việc chúng ta cần làm cùng nhau.

Gần đây, Quỹ Châu Á - New Zealand đã thực hiện một cuộc khảo sát về nhận thức của người dân Đông Nam Á đối với New Zealand. Ấn tượng chung là New Zealand được coi là một đối tác duy trì chính sách đối ngoại độc lập, nhưng có thể làm nhiều hơn nữa, đặc biệt là trong các lĩnh vực như biến đổi khí hậu, và tôi hoàn toàn đồng ý với điều đó. Nhưng chúng ta cũng phải lưu tâm đến những thay đổi trong động lực của ASEAN, những biến đổi đang diễn ra. 

Vì vậy, chúng ta phải sẵn sàng chuyển hướng sang phát triển các ưu tiên khu vực xoay quanh đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu, quản trị kinh tế. Năm ngoái, Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt đã đến New Zealand và nhấn mạnh rằng, với sự tăng trưởng của Việt Nam, với sức mạnh kinh tế của mình, New Zealand cũng sẽ được hưởng lợi từ những gì Việt Nam có thể cung cấp. Thời kỳ mà New Zealand chỉ giúp đỡ Việt Nam một chiều đã nhường chỗ cho một mối quan hệ cân bằng hơn nhiều.

Ví dụ, như Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt đã nhận xét, trong khi đào tạo sinh viên đại học luôn là một phần không thể thiếu trong quan hệ giáo dục của chúng ta, thì nay đã đến lúc chúng ta cần nghĩ đến việc trao đổi giáo dục bậc cao hơn, thậm chí là việc thành lập một trung tâm xuất sắc của ASEAN tại New Zealand. Đây là một mối quan hệ đang phát triển, và chúng ta phải sẵn sàng thích ứng với thời đại khi Việt Nam đang đạt được những tiến bộ kinh tế to lớn.

PV: Cũng trong cuộc điện đàm với Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon, Thủ tướng Việt Nam Lê Minh Hưng đề xuất quan hệ song phương nên tập trung vào 6 lĩnh vực. Ông nghĩ như thế nào về triển vọng quan hệ hai nước trong thời gian tới?

Cựu Đại sứ James Kember: Chúng ta đã chứng kiến ​​những thành tựu rất đáng kể trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ thông tin và công nghệ nông nghiệp, trong việc thành lập các liên doanh và công ty hoạt động tại cả New Zealand và Việt Nam. Luôn luôn sẽ có những hoạt động cốt lõi xoay quanh thương mại, giáo dục và nông nghiệp. Nhưng tôi cảm thấy vẫn còn nhiều dư địa để hợp tác hơn nữa về gìn giữ hòa bình và an ninh vì nó ảnh hưởng rất lớn đến cả hai quốc gia chúng ta. Cần phải làm nhiều hơn nữa về khoa học và công nghệ. Cần phải làm nhiều hơn nữa về biến đổi khí hậu, thích ứng với biến đổi khí hậu và đối phó với những ảnh hưởng của các tình trạng khẩn cấp về khí hậu.

Năm ngoái, tôi đã ở Việt Nam ngay sau trận lũ lụt ở miền Trung, và điều đó nhắc nhở rằng chúng ta có những vấn đề chung vì New Zealand cũng từng trải qua các tình trạng khẩn cấp về khí hậu. Vì vậy, chúng ta có thể học hỏi rất nhiều từ nhau về vấn đề này.

Về mặt cấu trúc, khoảng 10 năm trước, tôi nghĩ New Zealand và Việt Nam có khoảng 15 quan hệ đối tác chiến lược, và hiện nay, nếu tôi nhớ không nhầm, con số này đã lên đến khoảng 23. Khi một số nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện cách đây không lâu, Học viện Ngoại giao Việt Nam cho rằng, con số tối ưu có lẽ vào khoảng 30 đối tác chiến lược, bởi vì cần phải rất cẩn thận để không làm giảm giá trị của các thỏa thuận này.

Và điều quan trọng là các thỏa thuận này sẽ không có ý nghĩa gì nếu không đi kèm với hành động cụ thể, không có kế hoạch làm việc, không có sự tin tưởng lẫn nhau, không có sự tham vấn thường xuyên và việc xác định rõ ràng các ưu tiên. Chúng không cần phải toàn diện theo nghĩa bao quát mọi thứ, nhưng điều cần thiết là phải phát triển chiều sâu trong các lĩnh vực trọng điểm. Cụ thể hơn, cần phải phát triển chiều sâu trong các lĩnh vực trọng điểm đã được xác định cùng hợp tác. Nói cách khác, cần phải đạt được sự cân bằng giữa số lượng và chất lượng.

PV: Sau khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 và trở thành nền kinh tế quan trọng trong khu vực, Việt Nam đang rất quyết tâm để đạt được mục tiêu này. Trong bối cảnh này, theo ông, New Zealand có thể làm gì để đồng hành với Việt Nam trên chặng đường này để mang về lợi ích cho cả hai nước?

Cựu Đại sứ James Kember: Vào năm 2006, ngay trước khi tôi lên đường đến Hà Nội, tôi được dặn dò phải hết sức lưu tâm rằng Việt Nam đang trở thành "con hổ châu Á" trong tương lai và tôi nghĩ những lời nói đó đã được chứng minh rõ ràng. Mối quan hệ giữa hai nước chưa bao giờ đứng yên. Nó luôn tương ứng và phát triển theo hoàn cảnh hiện tại. Vào những năm 1970, đó là về viện trợ phát triển, là về các cơ sở y tế. Vào những năm 1980, kim ngạch thương mại chỉ ở mức 6 con số, nhưng chúng ta đã bắt đầu tập trung vào các cơ hội giáo dục, hoặc là ở đây hoặc thông qua việc thiết lập các hoạt động của trường đại học New Zealand tại Việt Nam.

Giờ đây, chúng ta đang làm việc với một nền kinh tế năng động, một thế hệ trẻ cực kỳ am hiểu công nghệ. Tôi không kỳ vọng Việt Nam sẽ bắt đầu xuất khẩu các sản phẩm sữa sang New Zealand ngay ngày mai. Nhưng điều chúng ta cần nhận ra là ở New Zealand, mối quan hệ thương mại đang ngày càng phù hợp hơn với thực tế của một nền kinh tế lớn. Điều mà các chính phủ liên tiếp ở cả hai nước đang làm là nỗ lực cải thiện điều kiện thương mại, và giờ đây tôi tin rằng đã đến lúc các doanh nghiệp tư nhân tận dụng tối đa những lợi thế đó.

Nhưng ngoài thương mại và như chúng ta đã thấy trong chính khu vực này, chúng ta cũng cần tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh, và trên hết, tầm quan trọng của giao lưu nhân dân là nền tảng của tất cả những điều đó. Đây là một cụm từ thường được sử dụng nhưng nó không thể hiện hết được sự phong phú của các mối quan hệ và kết nối xung quanh du lịch, kết nối hàng không, liên kết văn hóa, liên kết thể thao văn hóa, tất cả đều là một phần cấu thành nên mối quan hệ song phương mạnh mẽ và lành mạnh.

Đối với tôi, khi quan sát điều này trong nhiều thập kỷ, đó cũng là việc tạo dựng những tình bạn lâu dài. Tôi có rất nhiều bạn bè từ thời gian tôi ở Hà Nội, và thật vui khi được gặp lại một số người trong số họ khi tôi đến đó vào năm ngoái. Nhưng một điểm nữa trao đổi cởi mở và thẳng thắn là rất quan trọng. Chúng ta không phải lúc nào cũng đồng ý về mục tiêu cần đạt được. Chúng ta không phải lúc nào cũng đồng ý về cách thức đạt được mục tiêu đó, nhưng chúng ta phải tránh những bất ngờ. Chúng ta phải duy trì lòng tin. Chúng ta phải duy trì sự minh bạch và phải tham vấn thường xuyên. Và trong khi lý tưởng nhất là chúng ta đạt được sự hội tụ về lợi ích, thì đó phải là những lợi ích rõ ràng đối với cả hai bên.

Vì vậy, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là một phần của quá trình đó nhưng nó cũng làm cho các bên có lợi ích phải nỗ lực để tận dụng mọi cơ hội mà mối quan hệ này mang lại. Cuối năm ngoái, tôi đã dẫn đầu một đoàn chuyên gia về chính sách đối ngoại đến Hà Nội và chúng tôi đã có các cuộc thảo luận với Học viện Ngoại giao, Hội đồng Lý luận Trung ương, Viện nghiên cứu Kinh tế, và nhiều cơ quan khác.

Điều rõ ràng đối với tôi là có rất nhiều người biết đến New Zealand trực tiếp từ việc học tập tại đây, từ việc từng đến đây, từ công việc trước đây của họ, hoặc vì những lý do khác. Tôi nghĩ đó là lời nhắc nhở cho tất cả chúng ta rằng, cả hai quốc gia đều có những nguồn kiến ​​thức và thiện chí mạnh mẽ dành cho nhau. Bởi thế, sự hợp tác có nhiều hình thức, nhưng cốt lõi là các mối quan hệ chính trị và kinh tế.

Và tôi tin rằng nhiệm vụ của New Zealand là phải sẵn sàng tương tác không phải với Việt Nam của quá khứ, mà là với đất nước và cường quốc kinh tế mà nó đang trở thành.

PV: Xin cảm ơn ông!

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lên đường thăm cấp Nhà nước Australia và New Zealand
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lên đường thăm cấp Nhà nước Australia và New Zealand

VOV.VN - Sáng 9/8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội, lên đường thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lên đường thăm cấp Nhà nước Australia và New Zealand

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lên đường thăm cấp Nhà nước Australia và New Zealand

VOV.VN - Sáng 9/8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội, lên đường thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia, New Zealand
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia, New Zealand

VOV.VN - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9-14/8/2026.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia, New Zealand

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia, New Zealand

VOV.VN - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9-14/8/2026.

New Zealand đầu tư vào trí tuệ nhân tạo để thu hút khách du lịch
New Zealand đầu tư vào trí tuệ nhân tạo để thu hút khách du lịch

VOV.VN - New Zealand vừa quyết định đầu tư để nâng cấp hệ thống thông tin du lịch, nhằm giúp du khách dễ dàng tìm được thông tin về du lịch New Zealand khi sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI).

New Zealand đầu tư vào trí tuệ nhân tạo để thu hút khách du lịch

New Zealand đầu tư vào trí tuệ nhân tạo để thu hút khách du lịch

VOV.VN - New Zealand vừa quyết định đầu tư để nâng cấp hệ thống thông tin du lịch, nhằm giúp du khách dễ dàng tìm được thông tin về du lịch New Zealand khi sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI).