Quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New Zealand mang lại lợi ích cho các bên
VOV.VN - Australia và New Zealand là hai Đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam, vì vậy đây là mối quan hệ rất quan trọng đối với cả ba nước.
Mối quan hệ này chuẩn bị có một dấu ấn mới khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ đến thăm hai nước này từ ngày 9-14/8/2026. Chuyến thăm thể hiện sự tin cậy giữa Việt Nam với Australia và New Zealand được củng cố, tạo nền tảng cho quan hệ phát triển bền chặt và sâu sắc hơn. Nhân dịp này, Việt Nga, phóng viên Đài TNVN thường trú tại Australia đã phỏng vấn giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales về chuyến thăm cũng như tiềm năng của mối quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New Zealand.
PV: Quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New Zealand ngày càng trở nên sâu sắc hơn sau khi quan hệ song phương được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện lần lượt vào các năm 2024 và 2025. Lãnh đạo hai nước cũng thường xuyên gặp mặt, trao đổi. Trong bối cảnh này, chuyến thăm Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện điều gì về mối quan hệ giữa Việt Nam với hai nước này, thưa Giáo sư?
GS Carl Thayer: Như Thủ tướng Australia đã nói, Việt Nam là đối tác hàng đầu của Australia. Trước khi quan hệ hai nước được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện, các hoạt động hợp tác được thực hiện ở cấp Bộ trưởng và giờ đây khi quan hệ đã ở mức Đối tác chiến lược toàn diện, lãnh đạo hai nước gặp nhau mỗi năm, có thể là gặp song phương như cuộc gặp lần này hay gặp bên lề các sự kiện đa phương.
Quan hệ của Việt Nam với hai nước đang ở giai đoạn đỉnh cao, phát triển từ Đối tác chiến lược lên Đối tác chiến lược toàn diện và giờ là chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra sau 2 năm quan hệ với Australia và hơn 1 năm quan hệ với New Zealand được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện, và vào thời điểm chỉ còn 1 năm nữa để hoàn thành kế hoạch hành động vào năm 2027 nhưng đến giờ 96% mục tiêu đã được hoàn thành. Thực tế này đang củng cố lòng tin giữa Việt Nam với hai nước này.
PV: Australia và New Zealand đang ngày càng gần gũi hơn với khu vực Đông Nam Á và hai quốc gia này đang có nhiều nỗ lực để thực hiện điều này. Trong bối cảnh này, giáo sư có thể cho biết vị trí, vai trò của Việt Nam trong chính sách của Australia và New Zealand đối với khu vực Đông Nam Á? Việc thúc đẩy quan hệ với Việt Nam mang lại lợi ích và ý nghĩa gì đối với Australia và New Zealand cũng như quan hệ giữa hai nước này với ASEAN?
GS Carl Thayer: Việt Nam là một quốc gia luôn ổn định và có đóng góp tích cực cho ASEAN thông qua việc tham gia Diễn đàn khu vực ARF hay Hội nghị Cấp cao Đông Á và các hoạt động khác… Ứng phó với biến đổi khí hậu là chính sách rất quan trọng của New Zealand và Australia và Việt Nam lại cam kết thúc đẩy các nỗ lực này.
Ngoài ra, do sự chú trọng của Việt Nam vào khoa học, công nghệ, đổi mới và số hóa đang mang lại cho Australia và New Zealand những cơ hội to lớn trong các lĩnh vực chuyên biệt. Mặc dù hai quốc gia này không phải là những cường quốc kinh tế như Đức hay Pháp, nhưng lại có thế mạnh trong một số lĩnh vực chuyên sâu. Đó là sự hợp tác đôi bên cùng có lợi.
Không chỉ vậy, không có một quốc gia nào có thể đóng góp vào sự ổn định ở Đông Nam Á và tự giải quyết những thách thức như là tình trạng di cư bất hợp pháp, cướp biển, đánh bắt cá bất hợp pháp…Vì vậy, bằng cách hợp tác với Việt Nam, quốc gia có nhiều khả năng hơn để hỗ trợ, và bằng cách cùng nhau phát triển, cả hai bên đều được hưởng lợi.
Nếu xét trên khía cạnh kinh tế, một quốc gia không thể bán được hàng hóa của mình trừ khi nước láng giềng cũng phát triển, và đó là những gì đang xảy ra trong mối quan hệ với Việt Nam trên mọi phương diện. Mối quan hệ diễn ra theo cả hai chiều, và có những mặt hàng chúng ta có thể nhập khẩu, đặc biệt là trong ngành công nghiệp chip máy tính của Việt Nam… nếu nó mang lại cơ hội phát triển cho Australia hoặc có mặt hàng có thể xuất khẩu cho Việt Nam như quặng sắt để giúp Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển ngành công nghiệp.
PV: Theo giáo sư, đâu là những lĩnh vực mà Việt Nam có thể thúc đẩy hợp tác với Australia và New Zealand để đưa quan hệ sâu sắc và hiệu quả hơn?
GS Carl Thayer: Cho đến nay, chúng ta vẫn sử dụng các từ như khoa học, công nghệ, đổi mới là những thuật ngữ rất rộng khi nói về các lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam với hai nước này. Nhưng nếu chúng ta phân loại chúng thành các nhóm nhỏ hơn - trí tuệ nhân tạo, chuỗi cung ứng, gia tăng khả năng phục hồi, dự báo thiên tai, và giải quyết các vấn đề mà Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt, xử lý độ mặn, nông nghiệp thông minh, chính phủ điện tử… thì có thể thấy rõ hơn các lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam với Australia và New Zealand.
Có rất nhiều điều mà Australia và New Zealand, với tư cách là các nước phát triển có thể hỗ trợ Việt Nam như nâng cao các tiêu chuẩn quốc tế hay tháo gỡ các nút thắt trong Hiệp định khu vực thương mại tự do toàn diện giữa Australia, ASEAN, New Zealand được ký kết từ năm 2009. Hiện nay, với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới, chúng ta cần đa dạng hóa và có các chuỗi cung ứng kiên cường hơn.
Như vậy có thể thấy tiềm năng trong quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New Zealand là rất lớn, và do Việt Nam chú trọng vào khoa học, công nghệ và đổi mới, nên lĩnh vực này đang được đặt lên ưu tiên hàng đầu. Australia và New Zealand không phải là quốc gia đi đầu thế giới về lĩnh vực này nhưng hai nước có những thế mạnh nhất định, có những thị trường ngách riêng nên có thể hợp tác với Việt Nam.
Đồng thời, hai nước cũng có thể đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực. Không chỉ là trường RMIT, mà còn là đào tạo nghề trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ chuyên ngành. Australia cũng rất muốn thúc đẩy phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học), và điều đó sẽ giúp Việt Nam có nguồn lực để đảm bảo rằng lợi ích của khoa học và công nghệ được chia sẻ bình đẳng và cho cả các nhóm yếu thế có cơ hội phát triển.
PV: Đầu năm nay, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đặt ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 và trở thành một nền kinh tế quan trọng trong khu vực. Việt Nam đang rất quyết tâm để làm được điều này. Trong bối cảnh này, Australia và New Zealand có thể làm gì để cùng đồng hành với Việt Nam trong quá trình thực hiện mục tiêu này?
GS Carl Thayer: Tôi đã đề cập đến hiệp định thương mại tự do ba bên giữa Australia, New Zealand với ASEAN, đồng thời Australia cũng có chiến lược kinh tế Đông Nam Á và quan hệ đối tác kinh tế tăng cường với Việt Nam. Cả hai nước đều đang đặt mục tiêu tăng gấp đôi kim ngạch thương mại với Việt Nam. Trong đó New Zealand muốn tăng gấp đôi kim ngạch thương mại lên 3 tỷ USD. Trong khi Australia muốn tăng gấp đôi lên hơn 20 tỷ USD, đồng thời tăng cường đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực mới. Vì vậy, như tôi đã nói, tương lai đang chuyển từ mối quan hệ giữa chính phủ hai nước sang mối quan hệ trong toàn bộ các lĩnh vực chuyên ngành.
Hiện tại khi Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2024-2027 giữa Australia và Việt Nam sắp kết thúc, hai nước đang bắt đầu lên kế hoạch mới cho tương lai, trong đó tìm kiếm những lĩnh vực mang lại lợi ích cho cả hai bên. Việt Nam đang cần gì và có thể cung cấp gì? Và như các bạn đã biết và cũng như tôi cũng đã chỉ ra, Việt Nam có thể cung cấp chip máy tính, điều đó sẽ rất có giá trị. Nhưng đó không phải là lĩnh vực duy nhất.
Ngoài ra, Việt Nam cũng đang phát triển nông nghiệp công nghệ cao, phát triển các cảng biển và cơ sở hạ tầng, mô hình vận tải cũng thay đổi và nhiều tàu có thể cập bến tại Việt Nam hay Việt Nam sẽ cần thêm nhiều nguồn tài chính… thì đó đều là những lĩnh vực mà Australia và New Zealand có thể hỗ trợ Việt Nam. Australia có thể hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực này vì Australia kết nối tốt với chuỗi cung ứng quốc tế. Vì thế có thể thấy quan hệ sâu rộng hơn trong nhiều lĩnh vực chuyên biệt giữa Việt Nam với Australia và New Zealand sẽ giúp Việt Nam thực hiện các mục tiêu vào năm 2030-2045.
PV: Xin trân trọng cảm ơn giáo sư!