Pháp luật trở thành “hạ tầng mềm” cho tăng trưởng
VOV.VN - Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị là bước chuyển quan trọng trong tư duy xây dựng thể chế, từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Theo luật sư Hà Huy Phong, điều doanh nghiệp cần không chỉ là chính sách ưu đãi, mà là một hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định, dễ dự đoán và được thực thi thống nhất.
Không thiếu luật mà thiếu tính đồng bộ
Luật sư Hà Huy Phong, Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Inteco, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho rằng, qua nhiều năm tư vấn và tham gia giải quyết các vụ việc cho doanh nghiệp, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu luật, mà là thiếu tính đồng bộ, thiếu ổn định và khả năng dự đoán.
Theo ông, nhóm vướng mắc đầu tiên là sự chồng chéo giữa các luật về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, nhà ở, môi trường, phòng cháy chữa cháy, đấu thầu và quản lý tài sản công. Không ít dự án đáp ứng đầy đủ quy định của luật này nhưng lại chưa đủ điều kiện theo luật khác. Trong khi đó, trình tự thực hiện các thủ tục cũng chưa được quy định thống nhất, dẫn đến tình trạng cơ quan thực thi lúng túng khi xác định thủ tục nào phải thực hiện trước, thủ tục nào có thể tiến hành song song.
Một bất cập khác là cách hiểu và áp dụng quy định pháp luật giữa các ngành, các cấp còn thiếu thống nhất. Dù nhiều nguyên tắc về hiệu lực văn bản, thứ tự áp dụng pháp luật đã được quy định khá rõ, song trong thực tế vẫn có tình trạng cán bộ phải xin ý kiến nhiều cơ quan vì tâm lý e ngại sai sót, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý hồ sơ.
Ngoài ra, thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh vẫn còn nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, thiên về tiền kiểm thay vì hậu kiểm theo mức độ rủi ro. “Đặc biệt, những vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển quyền sử dụng đất, lựa chọn nhà đầu tư… vẫn là "nút thắt" lớn đối với phần lớn các dự án đầu tư”, luật sư Phong cho biết.
Cũng theo luật sư Hà Huy Phong, nguyên tắc “một nội dung chỉ thẩm định một lần” trên thực tế chưa được thực hiện triệt để. Nhiều cơ quan cùng xem xét một nội dung quản lý nhưng dưới những tên gọi thủ tục khác nhau, khiến doanh nghiệp phải thực hiện lặp đi lặp lại nhiều bước không cần thiết.
Một điểm nghẽn khác là khoảng cách giữa quy định và thực thi. Cùng một quy định nhưng mỗi địa phương, thậm chí mỗi cán bộ, có thể áp dụng theo cách khác nhau. Tâm lý sợ trách nhiệm khiến nhiều hồ sơ phải xin ý kiến nhiều cấp hoặc bị chuyển vòng nhiều cơ quan dù pháp luật không cấm giải quyết. Bên cạnh đó, cơ chế giải quyết tranh chấp và thi hành phán quyết vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền kinh tế hiện đại. Doanh nghiệp không chỉ cần quyền khởi kiện mà còn cần những phán quyết có thể dự đoán được, ban hành trong thời gian hợp lý và được thi hành hiệu quả.
Theo Báo cáo “Dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2025” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố tháng 06/2026 ghi nhận năm 2025 là năm kỷ lục lập pháp với những quyết sách lịch sử, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, song thực tế hơn 2.000 kiến nghị của doanh nghiệp trong năm 2025 vẫn tập trung vào quy hoạch, đất đai, đầu tư, tài chính và thủ tục hành chính. Điều đó cho thấy "điểm nghẽn" hiện nay không còn nằm ở việc nộp hồ sơ mà ở các điều kiện phê duyệt, sự phối hợp liên ngành và cách hiểu pháp luật.
“Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ đốt rác phát điện tại Đình Vũ (Hải Phòng) có tổng vốn đầu tư khoảng 2.499 tỷ đồng, công suất xử lý khoảng 1.000 tấn rác mỗi ngày, phát điện khoảng 20MW. Dù được kỳ vọng hoàn thành xây dựng và vận hành trong giai đoạn 2025 - 2026, nhưng quá trình triển khai vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiều thủ tục lựa chọn nhà đầu tư và xác định giá dịch vụ xử lý chất thải. Qua đây cho thấy một dự án có thể bị "khóa" bởi nhiều nút thắt pháp lý khác nhau”, luật sư Phong dẫn chứng.
Phải bắt đầu từ khâu xây dựng chính sách
Nghị quyết 66 đặt ra yêu cầu xây dựng pháp luật phải "đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam" là cách tiếp cận rất đúng và trúng. Theo luật sư Hà Huy Phong, khâu còn yếu nhất hiện nay chính là xác định vấn đề chính sách và đánh giá tác động trước khi bắt đầu soạn thảo luật. Nhiều báo cáo tổng kết vẫn chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính, trong khi chưa khai thác đầy đủ dữ liệu từ các hồ sơ bị trả lại, các dự án chậm tiến độ, các vụ khiếu nại, hay bản án của tòa, hoặc phản ánh của hiệp hội doanh nghiệp. “Chính những hồ sơ "không chạy được" này mới là nguồn dữ liệu quý giá nhất để nhận diện điểm nghẽn pháp luật”, luật sư Phong kiến nghị.
Việc đánh giá một chính sách mới cần trả lời được câu hỏi, doanh nghiệp phải bổ sung bao nhiêu loại giấy tờ, phải làm việc với bao nhiêu cơ quan, mất bao nhiêu thời gian, chi phí tuân thủ tăng hay giảm ra sao? và doanh nghiệp nhỏ sẽ chịu tác động như thế nào so với doanh nghiệp lớn? Bên cạnh đó, việc lấy ý kiến vào dự thảo luật nhiều khi được tiến hành quá muộn, khi luật đã gần hoàn thiện, khiến cơ hội điều chỉnh chính sách nền tảng gần như không còn. “Quá trình xây dựng luật hiện nay vẫn chưa đánh giá đầy đủ năng lực tổ chức thực thi như cơ sở dữ liệu, hạ tầng số, nhân lực địa phương hay tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn”, ông Phong đánh giá.
Để xây dựng pháp luật, xây dựng thể chế có hiệu quả, Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị yêu cầu tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Nhiều chuyên gia cho rằng, nguyên tắc quan trọng nhất là học cách giải quyết vấn đề chứ không sao chép nguyên văn điều luật. Để tránh tình trạng "nhập khẩu" cơ học mô hình pháp lý, luật sư Hà Huy Phong cho rằng, cần trả lời bốn câu hỏi trước khi tiếp nhận một mô hình pháp lý mới: Vấn đề của quốc gia đó có giống Việt Nam hay không? Mô hình có tương thích với Hiến pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam không? Chi phí thực thi có phù hợp với năng lực quản trị hiện nay hay không? Và người dân, doanh nghiệp sẽ phản ứng như thế nào?
Để hiện thực hóa mục tiêu đưa thể chế trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế hai con số, luật sư Hà Huy Phong đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, đổi mới toàn diện quy trình xây dựng chính sách và pháp luật theo hướng lấy thực tiễn làm điểm xuất phát. Mỗi chính sách cần có bản đồ quy trình, bản đồ xung đột pháp luật và đánh giá đầy đủ chi phí tuân thủ trước khi xây dựng văn bản.
Thứ hai, coi tổ chức thi hành là một phần không tách rời của quá trình xây dựng luật. Luật, nghị định, biểu mẫu, quy trình số, cơ sở dữ liệu và hướng dẫn nghiệp vụ phải được chuẩn bị đồng bộ để có thể triển khai ngay khi luật có hiệu lực. Đồng thời, cần đẩy mạnh cơ chế "một đầu mối" đối với các dự án liên ngành, tránh để doanh nghiệp phải tự đi điều phối giữa nhiều cơ quan.
Thứ ba, xây dựng cơ chế giám sát và phản ứng chính sách nhanh. Mỗi chính sách lớn cần được đánh giá sau 6 tháng hoặc 1 năm thực hiện với sự tham gia của doanh nghiệp, hiệp hội, luật sư, tòa án và chính quyền địa phương.
“Hiệu quả cải cách pháp luật không nên được đo bằng số lượng văn bản được ban hành hay số thủ tục được cắt giảm trên giấy, mà phải được đo bằng thời gian thực tế để một dự án đi vào hoạt động, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, mức độ thống nhất trong áp dụng pháp luật và khả năng dự đoán của môi trường đầu tư”, ông Phong đánh giá.
Luật sư Hà Huy Phong nhấn mạnh, khi hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định, đồng bộ, thể chế sẽ thực sự trở thành "hạ tầng mềm" của nền kinh tế, tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư, khơi thông nguồn lực xã hội và mở đường cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững mà Nghị quyết 66-NQ/TW hướng tới.
"Thông điệp cốt lõi của Nghị quyết 66 là chuyển tư duy từ pháp luật như một công cụ kiểm soát sang pháp luật như một dạng hạ tầng phát triển. Khi pháp luật rõ ràng, ổn định, nhất quán và được thực thi công bằng thì pháp luật không còn là chi phí mà trở thành nguồn lực, giảm rủi ro, củng cố niềm tin và mở đường cho tăng trưởng". Luật sư Hà Huy Phong.