Đường tới toàn thắng 30/4/1975:

Tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ, tiến lên tổng tiến công và nổi dậy giành toàn thắng

VOV.VN - Sau Hiệp định Paris 1973, dù rút quân, Mỹ vẫn duy trì cố vấn, viện trợ lớn và hậu thuẫn chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh “bình định lấn chiếm”, thực chất kéo dài chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước tình hình đó, Đảng kịp thời điều chỉnh chiến lược, tạo bước ngoặt tiến tới giải phóng miền Nam.

Mỹ - chính quyền Sài Gòn âm mưu kéo dài chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”

Sau khi Hiệp định Paris ký kết, Mỹ buộc phải rút toàn bộ quân viễn chinh khỏi miền Nam Việt Nam (29/3/1973). Tuy nhiên, do chính quyền Sài Gòn chưa sụp đổ, Mỹ vẫn giữ lại hơn 2 vạn cố vấn quân sự dưới danh nghĩa dân sự, lập ra bộ chỉ huy quân sự trá hình, tiếp tục viện trợ quy mô lớn về quân sự, kinh tế cho chế độ Sài Gòn.

Trong năm 1973, Mỹ viện trợ cho chế độ Sài Gòn khoảng 2,67 tỷ USD. Tranh thủ thời gian trước và ngay sau khi ký Hiệp định Paris (cuối 1972-1973), Mỹ khẩn trương chuyển giao vũ khí, phương tiện chiến tranh, bao gồm 700 máy bay, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép; đồng thời bổ sung khoảng 2 triệu tấn vật tư chiến tranh, góp phần tăng cường đáng kể sức mạnh cho khoảng 700.000 quân ngụy Sài Gòn.

Bên cạnh đó, Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng quân sự ở mức độ nhất định tại khu vực Đông Nam Á nhằm bao vây, răn đe cách mạng miền Nam. Trên mặt trận ngoại giao, Mỹ triển khai nhiều thủ đoạn xảo quyệt nhằm tranh thủ các nước lớn XHCN, gây sức ép cắt giảm viện trợ và cô lập cách mạng Việt Nam.

Trên thực tế, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam giảm mạnh, từ 248 triệu rúp (1973) xuống còn 98 triệu rúp (1974) và 76 triệu rúp (1975). Tương tự, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam cũng suy giảm, từ 1.415 triệu tệ (1973) xuống còn 452 triệu tệ (1974) và 196 triệu tệ (1975).

Dựa vào nguồn viện trợ của Mỹ, chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh các hoạt động quân sự, ngang nhiên vi phạm Hiệp định Paris. Chúng huy động hầu như toàn bộ lực lượng, liên tiếp mở những cuộc hành quân “bình định lấn chiếm” vùng giải phóng, nhằm xóa thế “da báo” và tiêu diệt lực lượng cách mạng. Riêng năm 1973, địch đã tiến hành 10.000 cuộc hành quân càn quét, lập thêm 500 đồn bốt, chiếm thêm 70 xã và 740 ấp, mở rộng kiểm soát thêm 650.000 dân. 

Chính quyền Sài Gòn còn tăng cường đàn áp, khủng bố các lực lượng chính trị đối lập và những người yêu nước, tiến bộ muốn thực hiện hòa bình, hòa hợp dân tộc; đồng thời tìm mọi cách gây khó khăn, đe dọa, cản trở hoạt động của Ban liên hiệp quân sự trong quá trình giám sát và thi hành Hiệp định Paris. Thực chất, những hoạt động này là sự tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” dưới hình thức mới, nhằm duy trì chính quyền Sài Gòn và chống lại phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam.

Chỉ đạo chiến lược của Đảng

Trước âm mưu và hành động chiến tranh mới của địch, chúng ta buộc phải đấu tranh để bảo vệ Hiệp định, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, tiếp tục đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi.

Tuy nhiên, trong những tháng đấu, do ta quá nhấn mạnh đến hòa bình, hòa hợp, không đánh giá hết âm mưu phá hoại của địch, mất cảnh giác, buông lỏng vũ khí tư tưởng cách mạng bạo lực... nên trên một số địa bàn quan trọng ta bị mất đất, mất dân.

Nắm bắt tình hình trên, tháng 7/1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 họp bàn, chỉ rõ: “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên”[1]. Đây là sự chỉ đạo chiến lược rất sắc bén, có ý nghĩa quyết định xoay chuyển cục diện chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho cách mạng.

Chấp hành chủ trương của Đảng, từ cuối năm 1973, quân dân miền Nam kiên quyết đánh trả mọi hành động chiến tranh của địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng, từng bước tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ mới cho cách mạng.

Đến giữa năm 1974, ta đã xóa được 3.600 đồn bốt địch, giải phóng thêm 850 ấp với 115 vạn dân. Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn tiếp tục được nâng cấp mở rộng và kéo dài. Trong hai năm 1973-1974, miền Bắc tiếp tục đưa vào miền Nam 145.000 bộ đội. Trên cơ sở thắng lợi, Bộ Chính trị quyết định thành lập 3 quân đoàn chủ lực: Quân đoàn 1 đứng chân ở miền Bắc (10/1973), Quân đoàn 2 ở Trị - Thiên (5/1974), Quân đoàn 4 ở Đông Nam Bộ (7/1974).

Trong khi đó, thế và lực của địch suy yếu rõ rệt: bị tổn thất khoảng 10 vạn quân chủ lực; hoạt động của máy bay giảm 80%, pháo binh giảm 60%, buộc chúng phải co về phòng ngự. Tình hình chính trị nước Mỹ đang rơi vào khủng hoảng, buộc Richard Nixon phải từ chức tổng thống (8/1974).

Nhận thấy thời cơ chiến lược mới, Đảng họp Hội nghị Bộ Chính trị (30/9-8/10/1974) và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (18/12/1974-8/1/1975) để bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam. 

Giữa lúc Hội nghị đang diễn ra thì nhận được tin Quân giải phóng miền Nam đã giành thắng lợi vang dội trong Chiến dịch Đường 14 - Phước Long (13/12/1974-6/1/1975). Ta giải phóng toàn tỉnh Phước Long với 50.000 dân, tạo thêm bàn đạp uy hiếp từ phía bắc Sài Gòn. Cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều phản ứng yếu ớt rồi chấp nhận thất bại. Chiến thắng Phước Long có giá trị như “đòn trinh sát chiến lược”, cho thấy rõ hơn khả năng Mỹ sẽ không can thiệp trở lại bằng quân sự; đồng thời bộc lộ trình độ tác chiến yếu kém của chủ lực địch, ta có thể giành thắng lợi sớm hơn.

Bộ Chính trị khẳng định thời cơ chiến lược của cách mạng miền Nam đang phát triển nhanh chóng đến độ chín muồi; trên cơ sở đó, hạ quyết tâm chiến lược: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đẩy mạnh đấu tranh, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm (1975-1976). Bộ Chính trị nêu rõ: “Trận quyết chiến chiến lược này là một sự nghiệp trọng đại. Nó sẽ đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, góp phần làm thay đổi cục diện ở Đông Dương, Đông Nam Á, mở ra một bước phát triển mới trong phong trào cách mạng của nhân dân thế giới”[2].

Mặc dù đề ra kế hoạch trong hai năm, Bộ Chính trị đồng thời nhấn mạnh: Nếu thời cơ đến sớm thì giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975, nhằm giảm tổn thất cho nhân dân và hạn chế sự tàn phá của chiến tranh. Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến chiến lược, quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên, mục tiêu then chốt là Buôn Ma Thuột. Đây là quyết định thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự chủ động, linh hoạt và sáng tạo của Đảng trong chỉ đạo chiến tranh.

Ngày 4/3/1975, Chiến dịch Tây Nguyên mở màn, ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột (11/3/1975), làm tan rã hệ thống phòng thủ của địch. Đến ngày 3/4/1975, chiến dịch kết thúc thắng lợi, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, giải phóng Tây Nguyên, tạo bước ngoặt quyết định về cục diện chiến tranh.

Khi chiến sự Tây Nguyên đang diễn ra, nhận thấy thời cơ đến sớm, ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị họp, đề ra quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Đến ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị họp, đề ra chủ trương: tập trung nhanh nhất binh lực, vật lực giải phóng miền Nam trước mùa mưa (khoảng giữa tháng 5/1975). Đồng thời, xác định nhiệm vụ trước mắt là tập trung mở đòn tiến công chiến lược thứ hai giải phóng Huế - Đà Nẵng.

Tranh thủ thời cơ, ta tổ chức tiến công hiệp đồng, nhanh chóng giải phóng Huế (26/3/1975) và Đà Nẵng (29/3/1975), tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn của địch, mở ra vùng hậu phương chiến lược rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến dịch tiếp theo.

Trước sự phát triển mau lẹ của chiến trường, ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị tiếp tục họp và đưa ra quyết định lịch sử: Nắm vững thời cơ chiến lược, tiến hành tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất, tốt nhất là trong tháng 4/1975. Đồng thời, đề ra phương châm chỉ đạo: “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Chủ trương này nhanh chóng được quán triệt và triển khai trên toàn chiến trường.

Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng nhằm giải phóng Sài Gòn. Ta tập trung 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn). Ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu. Với lực lượng mạnh, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, các binh đoàn chủ lực nhanh chóng đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài, tiến vào trung tâm Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975, quân ta chiếm Dinh Độc Lập, buộc chính quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, chiến dịch toàn thắng!

Như vậy, dưới sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, kịp thời, linh hoạt và sáng tạo của Đảng, quân dân ta đã tận dụng hiệu quả thời cơ lịch sử, tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thực tiễn chỉ đạo chiến lược của Đảng (1973-1975) để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Một là, kiên định đường lối chiến lược, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn. Trước những hạn chế ban đầu do thiếu cảnh giác, địch vi phạm Hiệp định Paris gây khó khăn cho cách mạng, Đảng đã kịp thời chỉ đạo, khẳng định bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Trong bối cảnh hiện nay, điều đó được vận dụng ở việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đẩy mạnh đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và thích ứng linh hoạt với môi trường quốc tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. 

Hai là, đánh giá đúng tình hình, nắm bắt và tận dụng thời cơ chiến lược. Thực tiễn giai đoạn 1973-1975 cho thấy Đảng đã nhận định chính xác âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đồng thời kịp thời phát hiện “thời cơ chiến lược chín muồi” để hạ quyết tâm giải phóng miền Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ, bài học này đòi hỏi phải nâng cao năng lực dự báo, chủ động nhận diện và tận dụng hiệu quả các cơ hội phát triển như chuyển đổi số, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế. Điều này phù hợp với định hướng của Đảng về phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức.

Ba là, quyết đoán trong lãnh đạo, hành động nhanh, linh hoạt và hiệu quả khi thời cơ xuất hiện. Trong quá trình chỉ đạo, Bộ Chính trị đã thể hiện sự quyết đoán cao khi liên tục điều chỉnh, rút ngắn kế hoạch chiến lược (từ hai năm xuống một năm, rồi xuống vài tháng), đồng thời đề ra phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” và tổ chức thực hiện thắng lợi trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Trong bối cảnh hiện nay, bài học này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực điều hành của hệ thống chính trị, bảo đảm khả năng phản ứng chính sách nhanh, kịp thời và hiệu quả trước các biến động lớn như khủng hoảng kinh tế, chuyển đổi số và các thách thức an ninh phi truyền thống. Đây cũng là tinh thần cải cách mạnh mẽ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia mà chúng ta đang hướng tới.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc gắn với yêu cầu phát triển mới. Thắng lợi năm 1975 là kết quả của việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc (cả hai miền Nam, Bắc). Trong điều kiện hiện nay, bài học này cần được vận dụng vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng- an ninh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức mạnh con người Việt Nam và toàn xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.34, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.232.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.11.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Cần Thơ họp mặt kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Cần Thơ họp mặt kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

VOV.VN - Ngày 28/4, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ tổ chức họp mặt kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 - 1/5/2026) và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cần Thơ họp mặt kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Cần Thơ họp mặt kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

VOV.VN - Ngày 28/4, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ tổ chức họp mặt kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 - 1/5/2026) và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đồng Nai lên thành phố từ 30/4/2026
Đồng Nai lên thành phố từ 30/4/2026

VOV.VN - Đồng Nai đáp ứng đầy đủ 5/5 điều kiện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và 7/7 tiêu chuẩn đơn vị hành chính theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chính thức trở thành thành phố từ 30/4/2026.

Đồng Nai lên thành phố từ 30/4/2026

Đồng Nai lên thành phố từ 30/4/2026

VOV.VN - Đồng Nai đáp ứng đầy đủ 5/5 điều kiện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và 7/7 tiêu chuẩn đơn vị hành chính theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chính thức trở thành thành phố từ 30/4/2026.

Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo
Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo

VOV.VN - Khởi nghĩa từng phần là bước mở đầu sáng tạo, thể hiện sự chuyển hướng kịp thời của Đảng trước tình thế hiểm nghèo của cách mạng miền Nam. Chủ trương này đã khơi dậy sức mạnh quần chúng, tạo đà cho phong trào Đồng Khởi, đưa cách mạng từ thế phòng ngự sang tiến công.

Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo

Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo

VOV.VN - Khởi nghĩa từng phần là bước mở đầu sáng tạo, thể hiện sự chuyển hướng kịp thời của Đảng trước tình thế hiểm nghèo của cách mạng miền Nam. Chủ trương này đã khơi dậy sức mạnh quần chúng, tạo đà cho phong trào Đồng Khởi, đưa cách mạng từ thế phòng ngự sang tiến công.