Thu hút nhân tài: Nên chuyển từ “thu hút con người” sang “thu hút năng lực”
VOV.VN - Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh cho rằng, nếu chuyển được trọng tâm từ “quản lý nhân tài” sang “tạo môi trường để năng lực được phát huy”, chính sách thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài sẽ thực chất hơn rất nhiều.
Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu, Đề án "Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững" phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược và năng lực đất nước đang thiếu. Cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng năng suất và sức tự chủ. Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài.
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh Đoàn Đại biểu tỉnh Lâm Đồng đã có chia sẻ cùng Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam về vấn đề đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài.
PV: Thưa đại biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng cao năng suất và sức tự chủ. Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài. Theo bà, cần làm rõ sự khác biệt ra sao giữa thu hút và trọng dụng nhân tài?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Theo tôi, cần phân biệt rất rõ giữa thu hút nhân tài và trọng dụng nhân tài, bởi đây là hai khâu khác nhau trong cùng một chính sách.
Thu hút là làm thế nào để người có năng lực, có tri thức, có kinh nghiệm và thành tích nổi trội muốn đến với Việt Nam, đến với một ngành, một địa phương hoặc một tổ chức cụ thể. Nhưng thu hút mới chỉ giải quyết được câu hỏi “làm thế nào để có người giỏi”. Còn trọng dụng phải trả lời câu hỏi quan trọng hơn: khi người tài đã đến, chúng ta có thực sự tạo điều kiện để họ phát huy năng lực hay không.
Một người giỏi sẽ không chỉ nhìn vào mức thu nhập. Họ quan tâm mình được giao bài toán gì, có quyền chủ động đến đâu, có được tiếp cận nguồn lực hay không, kết quả công việc có được đánh giá bằng sản phẩm thực chất hay vẫn phải đi qua quá nhiều thủ tục hành chính. Nếu đưa một nhà khoa học giỏi vào một cơ quan nhưng không giao cho họ quyền quyết định tương xứng, không có kinh phí, không có nhóm nghiên cứu và vẫn đánh giá họ chủ yếu bằng hồ sơ, bằng quy trình, thì chúng ta có thể thu hút được người tài nhưng chưa chắc đã trọng dụng được người tài.
Vì vậy, tôi cho rằng trọng dụng phải được đặt ở trung tâm của chính sách. Trọng dụng không có nghĩa là ưu ái một cá nhân, mà là thiết kế một môi trường trong đó năng lực thực sự có cơ hội chuyển hóa thành kết quả. Người tài phải được giao việc khó, được trao quyền tương xứng, được tiếp cận nguồn lực và được đánh giá bằng kết quả.
Nói ngắn gọn, thu hút là đưa người tài đến, trọng dụng là làm cho năng lực của họ được sử dụng đúng chỗ và tạo ra giá trị. Nếu chỉ chú trọng thu hút mà không thay đổi cơ chế trọng dụng thì rất dễ xảy ra tình trạng “thu hút được người nhưng không giữ được người”, hoặc người ở trong hệ thống nhưng năng lực không được phát huy.
Không nhất thiết phải đưa bằng được nhân tài vào khu vực công
PV: Thực tế cho thấy, rất nhiều chuyên gia giỏi đang làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn đa quốc gia hoặc viện nghiên cứu độc lập. Liệu có nhất thiết phải đưa họ vào bộ máy hành chính công thì Nhà nước mới "dùng” được họ, hay có giải pháp nào để những nhân tài này có thể tham gia giải quyết các bài toán lớn của đất nước?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Tôi cho rằng không nhất thiết. Đây là điểm chúng ta cần thay đổi trong tư duy về sử dụng nhân tài.
Nhân tài của đất nước không chỉ nằm trong khu vực công. Một chuyên gia đang làm việc tại một tập đoàn công nghệ, một doanh nghiệp tư nhân, một trường đại học hay một viện nghiên cứu độc lập vẫn có thể đóng góp trực tiếp cho những bài toán chiến lược của quốc gia. Vấn đề không phải là đưa tất cả những người giỏi ấy vào biên chế, mà là Nhà nước phải có cơ chế kết nối và sử dụng được năng lực của họ. Chẳng hạn, Nhà nước có thể đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển, mời chuyên gia tham gia các hội đồng tư vấn, nhóm công tác, chương trình nghiên cứu quốc gia hoặc các dự án cụ thể; có thể thuê chuyên gia theo nhiệm vụ, theo sản phẩm hoặc theo thời hạn thay vì buộc họ phải chuyển sang khu vực công.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với những lĩnh vực công nghệ thay đổi rất nhanh. Nếu chúng ta chỉ trông chờ vào việc tuyển người giỏi vào bộ máy hành chính thì có thể vừa khó thu hút, vừa làm mất đi nguồn lực rất lớn đang tồn tại bên ngoài Nhà nước.
Tôi nghĩ nên chuyển từ tư duy “thu hút con người” sang “thu hút năng lực”. Người tài có thể ở đâu không quan trọng bằng việc Nhà nước có cơ chế để huy động được tri thức, kinh nghiệm và năng lực giải quyết vấn đề của họ hay không.
Tất nhiên, với những vị trí đòi hỏi quyền lực công hoặc trách nhiệm quản lý nhà nước thì vẫn cần người làm việc trong bộ máy. Nhưng đối với rất nhiều nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tư vấn chính sách, không nhất thiết người thực hiện phải là công chức hay viên chức.
Thực hiện cơ chế đặt hàng, trao quyền tự chủ
PV: Trọng dụng là khâu then chốt. Thay vì cố gắng thu hút nhân tài bằng quỹ lương hữu hạn của Nhà nước, chúng ta có nên chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế "Nhà nước đặt hàng", "khoán việc" cho các doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu ngoài công lập? Cơ chế này nên được thiết kế như thế nào để vừa đảm bảo hiệu quả quốc gia, vừa hấp dẫn các tổ chức này?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Tôi cho rằng đây là hướng rất đáng quan tâm, và cần được mở rộng mạnh hơn, nhất là đối với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và giải quyết những bài toán lớn của quốc gia. Nhà nước không nhất thiết phải dùng quỹ lương để “mua” thời gian của tất cả những người giỏi. Trong nhiều trường hợp, hiệu quả hơn là mua một kết quả cụ thể. Nhà nước xác định bài toán, yêu cầu đầu ra, tiêu chuẩn chất lượng, thời hạn và nguồn lực; còn doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu hoặc nhóm chuyên gia cạnh tranh để thực hiện.
Nhưng để cơ chế đặt hàng thực sự hoạt động, tôi cho rằng phải thay đổi cả cách Nhà nước đặt hàng. Không thể giao một nhiệm vụ nghiên cứu mà ngay từ đầu đã quy định quá chi tiết cách làm, rồi lại đánh giá chủ yếu theo số lượng thủ tục, báo cáo hay chứng từ. Với những bài toán công nghệ phức tạp, Nhà nước nên quản lý mục tiêu và kết quả đầu ra, đồng thời trao quyền tự chủ nhất định cho tổ chức thực hiện.
Điểm thứ hai là cơ chế tài chính phải chấp nhận rủi ro của nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Không phải dự án khoa học nào cũng thành công ngay từ lần đầu. Nếu cơ chế tài chính khiến nhà khoa học chỉ dám làm những việc chắc chắn hoàn thành, thì rất khó tạo ra công nghệ mới.
Điểm thứ ba là phải có cơ chế lựa chọn minh bạch, cạnh tranh và đánh giá độc lập, để “đặt hàng” không biến thành “chỉ định cho một đơn vị”. Khi có cạnh tranh thực chất về năng lực và sản phẩm, Nhà nước mới có thể sử dụng được nguồn lực tốt nhất của xã hội.
Tôi nghĩ đây cũng là cách để giải bài toán mà câu hỏi đặt ra: Nhà nước không cần sở hữu toàn bộ nhân tài, nhưng phải có khả năng huy động nhân tài khi đất nước cần.
Cần cơ chế để dòng tiền nghiên cứu đi đến nơi có năng lực tạo ra kết quả tốt nhất
PV: Để đào tạo, thu hút và trọng dụng nguồn nhân tài căn bản, lâu dài cho các ngành mũi nhọn, sự bắt tay giữa Nhà nước (với vai trò tạo hành lang, hỗ trợ vốn) – Trường Đại học (đào tạo) – và Doanh nghiệp (đầu ra và R&D) cần những đòn bẩy chính sách đột phá nào trong thời gian tới?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Theo tôi, muốn có nguồn nhân tài cho các ngành mũi nhọn thì không thể chỉ bắt đầu từ chính sách thu hút khi một người đã trở thành chuyên gia. Chính sách phải bắt đầu từ rất sớm và phải tạo được một chuỗi liên tục từ đào tạo – nghiên cứu – ứng dụng – phát triển nghề nghiệp.
Tôi cho rằng có ba việc cần làm.
Thứ nhất, đào tạo phải gắn với nhu cầu năng lực thực tế của đất nước. Nhà nước cần xác định những lĩnh vực mà Việt Nam thực sự thiếu năng lực, chẳng hạn công nghệ lõi, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng, công nghệ sinh học, vật liệu mới… Từ đó đặt hàng các trường đại học đào tạo theo nhu cầu dài hạn, thay vì đào tạo theo khả năng cung ứng hiện có của từng cơ sở.
Thứ hai, phải tạo điều kiện để đại học và doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình đào tạo và nghiên cứu. Doanh nghiệp không nên chỉ xuất hiện ở khâu tuyển dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp. Doanh nghiệp có thể tham gia xác định chương trình đào tạo, cung cấp phòng thí nghiệm, nhận sinh viên thực tập, đồng tài trợ nghiên cứu và cùng phát triển sản phẩm. Khi đó, sinh viên được tiếp xúc với những bài toán thực tế ngay trong quá trình học.
Thứ ba, Nhà nước cần tạo cơ chế để dòng tiền nghiên cứu đi đến nơi có năng lực tạo ra kết quả tốt nhất, không phân biệt đó là trường đại học công lập, doanh nghiệp hay viện nghiên cứu. Nếu một doanh nghiệp có năng lực nghiên cứu tốt hơn một đơn vị công lập trong một lĩnh vực cụ thể thì doanh nghiệp đó phải có cơ hội nhận nhiệm vụ nghiên cứu của Nhà nước.
Và tôi muốn nhấn mạnh một điểm, chính sách nhân tài không nên chỉ được đo bằng chúng ta thu hút được bao nhiêu người, mà phải được đo bằng những năng lực mới nào được hình thành, những công nghệ nào được làm chủ, những sản phẩm nào được tạo ra và năng suất của nền kinh tế được cải thiện ra sao.
Nếu chuyển được trọng tâm từ “quản lý nhân tài” sang “tạo môi trường để năng lực được phát huy”, tôi cho rằng chính sách thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài sẽ thực chất hơn rất nhiều.
PV: Xin cảm ơn bà!