Tinh gọn bộ máy: Từ "giảm đầu mối" đến "tăng năng lực vận hành"
VOV.VN - Tinh gọn bộ máy chỉ là bước khởi đầu của cải cách. Để bộ máy vận hành hiệu lực, hiệu quả cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm, gắn thẩm quyền với nguồn lực, kiểm soát quyền lực, đổi mới cơ chế đánh giá và lấy chất lượng phục vụ người dân, DN làm thước đo của cải cách.
PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển, Phó Giám đốc Học viện Khoa học xã hội đã khẳng định điều này trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam.
Chuyển trọng tâm từ giảm đầu mối sang tăng năng lực vận hành
PV: Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khoá XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, sắp xếp tổ chức bộ máy đã tạo ra cấu trúc tinh gọn hơn. Nhưng tinh gọn mới là điều kiện; mục tiêu là Đảng lãnh đạo hiệu quả hơn, Nhà nước quản trị tốt hơn, bộ máy vận hành nhanh hơn, nhân dân được phục vụ tốt hơn, mức sống thực của nhân dân được nâng cao hơn. Vậy chúng ta cần làm gì tiếp theo để đạt được điều này thưa PGS.TS?
PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển: Tôi cho rằng tinh gọn bộ máy là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Nếu tổ chức nhỏ đi mà quy trình vẫn dài, thủ tục vẫn chồng chéo, chất lượng phục vụ không đổi, thì người dân vẫn không cảm nhận được hiệu quả. Điều chúng ta cần làm tiếp theo là chuyển trọng tâm từ giảm đầu mối sang tăng năng lực vận hành và chất lượng kết quả. Theo đó, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết cần rà soát lại chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng cơ quan, đơn vị sau sáp nhập để tránh tình trạng vừa chồng chéo vừa bỏ trống. Mỗi đầu việc phải xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, người chịu trách nhiệm và thời hạn xử lý. Tinh gọn đầu mối mà không rút ngắn đường đi của một hồ sơ thì mới chỉ là gọn trên sơ đồ tổ chức, chưa phải gọn trong vận hành.
Cùng với đó thiết kế lại quy trình giải quyết công việc theo hướng cắt bỏ các khâu trung gian, số hóa và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan. Mục tiêu là một việc chỉ khai báo một lần, một hồ sơ chỉ luân chuyển trên hệ thống, người dân và doanh nghiệp không phải đi lại nhiều lần.
Đồng thời kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức: Cơ cấu lại tổ chức đi kèm với sắp xếp lại nhân sự, đào tạo lại, bố trí đúng người đúng việc. Cần đặc biệt chú ý đến tâm lý, văn hoá làm việc và năng lực thực tiễn, vì nhiều đơn vị sau sáp nhập có biên chế thừa ở khâu này nhưng thiếu ở khâu khác.
Quan trọng hơn, hiệu quả hoạt động của bộ máy phải được gắn với mục tiêu phát triển. Suy cho cùng, việc sắp xếp tổ chức bộ máy phải phục vụ con người, chứ không chỉ để bộ máy trở nên hợp lý hơn. Vì vậy, cần đặt ra những câu hỏi như: mức sống thực của người dân đã tốt hơn chưa, chi phí tiếp cận dịch vụ công đã giảm chưa, cơ hội phát triển của nhóm yếu thế đã được cải thiện chưa. Nếu ba câu hỏi này có câu trả lời rõ ràng thì cải cách bộ máy mới thực sự đi đúng hướng.
PV: Thưa PGS.TS cần có những tiêu chí và cơ chế đánh giá như thế nào để đo lường đúng chất lượng quyết sách, hiệu quả thực thi và mức độ phục vụ người dân?
PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển: Đánh giá bằng đầu mối hay biên chế chỉ là ảnh chụp một thời điểm, không phản ánh bản chất của cải cách. Cần chuyển từ đánh giá hình thức sang đánh giá kết quả thực chất và giá trị tạo ra cho người dân, doanh nghiệp. Hệ thống đánh giá nên gồm ba bộ tiêu chí và ba cơ chế đi kèm.
Ba bộ tiêu chí: Một là chất lượng quyết sách được đo bằng mức đạt mục tiêu chính sách, mức độ nhất quán giữa các văn bản, chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, tác động ngoài dự kiến và phản hồi của đối tượng chịu tác động. Việc một văn bản phải sửa đổi, bổ sung không nhất thiết là xấu, vì chính sách cần điều chỉnh theo thực tiễn. Điều cần quan tâm là sửa vì lý do gì và sửa có kịp thời hay không.
Hai là hiệu quả thực thi, phản ánh qua thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn, số lần người dân phải bổ sung giấy tờ, mức liên thông giữa các cơ quan và chi phí vận hành trên một đơn vị sản phẩm hành chính. Đây là nhóm chỉ số phản ánh trực tiếp năng lực vận hành của bộ máy.
Ba là tác động thực chất đến người dân và doanh nghiệp, gồm mức độ hài lòng, thời gian và chi phí tuân thủ, khả năng tiếp cận dịch vụ công, đặc biệt với nhóm yếu thế, và sự thay đổi trong các chỉ số phát triển như thu nhập, việc làm, an sinh. Nói cách khác, không chỉ đo cơ quan nhà nước làm nhanh hơn bao nhiêu, mà phải đo người dân tốn ít thời gian, chi phí và cơ hội bị bỏ lỡ hơn bao nhiêu.
Ba cơ chế đánh giá đi kèm: Đầu tiên là hệ thống dữ liệu hành chính gắn với từng hồ sơ, ghi nhận tiến độ, người xử lý, thời điểm chuyển việc và kết quả, làm cơ sở cho đánh giá khách quan và phát hiện điểm nghẽn.
Bên cạnh đó là cơ chế đánh giá độc lập từ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội ngành nghề, chuyên gia và cơ sở nghiên cứu, bảo đảm tiếng nói phản biện không chỉ đến từ nội bộ hệ thống.
Đặc biệt phải gắn kết quả đánh giá với trách nhiệm, nghĩa là kết quả phải công khai ở mức phù hợp và trở thành một trong các căn cứ để đánh giá cán bộ, bố trí nhân sự, phân bổ nguồn lực và điều chỉnh quy trình. Nếu chỉ đo lường mà không hệ quả thì sức ép cải thiện sẽ hạn chế.
Cá thể hoá trách nhiệm trong từng khâu công việc
PV: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu bảo đảm kỷ luật nghiêm minh, tổ chức rõ ràng, quyền lực được kiểm soát và trách nhiệm được thực thi. Theo PGS.TS cần làm gì để những yêu cầu này được hiện thực hoá trong quá trình vận hành bộ máy sau sắp xếp?
PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển: Để kỷ luật nghiêm minh, tổ chức rõ ràng, quyền lực được kiểm soát và trách nhiệm được thực thi cần bắt đầu từ một nguyên tắc: Quyền đi đôi với trách nhiệm, thẩm quyền đi đôi với nguồn lực. Một cơ quan, một vị trí được giao quyền đến đâu thì phải chịu trách nhiệm đến đó, đồng thời phải có đủ nhân lực, dữ liệu, quy trình và nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ. Tách rời hai phía này thì kỷ luật khó nghiêm và trách nhiệm khó thực thi.
Từ nguyên tắc đó, tôi cho rằng cần triển khai 4 nhóm việc.
Trước hết, cá thể hoá trách nhiệm trong từng khâu công việc. Mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ người chủ trì, người phối hợp, thời hạn hoàn thành, kết quả kỳ vọng và trách nhiệm giải trình. Điều này giúp hạn chế tình trạng né tránh, đùn đẩy hoặc quy trách nhiệm chung chung cho tập thể, đồng thời tạo cơ sở để xử lý công bằng khi xảy ra sai phạm.
Cùng với đó kiểm soát quyền lực bằng quy trình minh bạch và dữ liệu số. Khi hồ sơ, tiến độ xử lý, thời điểm chuyển việc và người chịu trách nhiệm được ghi nhận trên hệ thống, cơ quan quản lý có thể phát hiện điểm nghẽn, chậm trễ hoặc dấu hiệu nhũng nhiễu. Công nghệ không thay thế con người, nhưng giúp giám sát khách quan hơn và tạo sức ép thường trực để mỗi cá nhân tự điều chỉnh hành vi.
Đồng thời cần xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực theo cả 3 khâu: trước, trong và sau quyết định. Trước quyết định cần quy định rõ những việc người có chức vụ không được làm, công khai lợi ích và xung đột lợi ích, lấy ý kiến các bên liên quan. Trong quá trình thực hiện cần theo dõi tiến độ, chi phí, phản hồi xã hội. Sau quyết định cần đánh giá kết quả, thanh tra, kiểm toán và xử lý nghiêm nếu phát hiện lạm quyền hoặc vụ lợi. Bên cạnh đó cần có cơ chế bảo vệ người phản ánh sai phạm, vì kiểm soát quyền lực không thể thiếu tiếng nói phản biện từ bên ngoài.
Bên cạnh việc hoàn thiện các cơ chế kiểm soát, cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện. Kỷ luật nghiêm minh đòi hỏi chế tài phải rõ ràng và nhất quán, đồng thời phải phân biệt giữa sai phạm do vụ lợi, lạm quyền với sai sót trong quá trình chủ động đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Nếu không phân biệt được hai loại này thì sẽ hình thành tâm lý sợ sai, không dám quyết, và cuối cùng bộ máy vẫn ì ạch dù đã tinh gọn.
Tôi tin rằng quyền lực chỉ thực sự được kiểm soát khi nó được phân định bằng quy chế, theo dõi bằng dữ liệu và ràng buộc bằng trách nhiệm giải trình. Khi ba yếu tố này vận hành cùng nhau thì kỷ luật sẽ trở thành chuẩn mực tự thân, thay vì chỉ là áp lực từ trên xuống từng đợt.
PV: Xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển!