Tái định cư phải bảo đảm người dân có nơi ở thực chất
VOV.VN - Chính sách tái định cư phải bảo đảm người dân có nơi ở thực chất chứ không chỉ bảo đảm một giá trị bồi thường về mặt tài chính, đại biểu Quốc hội nêu ý kiến khi thảo luận liên quan Luật Đất đai.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng nay, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.
Người dân cần biết vì sao mức bồi thường được xác định như vậy
Góp ý về dự án sửa đổi Luật Đất đai 2024, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH Vĩnh Long) quan tâm về chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Trong đó, Khoản 2, Điều 72 quy định căn cứ tiền bồi thường bao gồm giá đất theo bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất. Điều 76 quy định bảng giá đất hệ số điều chỉnh giá đất được sử dụng để tính tiền bồi thường và do UBND tỉnh xây dựng trình hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng, cách tiếp cận này có ưu điểm là đơn giản quá trình xác định giá, tuy nhiên khi bảng giá đất và hệ số điều chỉnh trở thành căn cứ trực tiếp để tính giá bồi thường thì yêu cầu về tính chính xác minh bạch và khả năng giải trình phải cao hơn. Do đó đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị bổ sung tại Điều 76 trách nhiệm công khai các thông tin chủ yếu như nguồn dữ liệu, căn cứ xác định hệ số điều chỉnh và các yếu tố chính hình thành mức giá.
“Người có đất bị thu hồi không chỉ cần biết được bồi thường bao nhiêu mà cần biết được vì sao mức bồi thường được xác định như vậy. Minh bạch căn cứ hình thành mức giá sẽ góp phần quan trọng giảm khiếu nại khiếu kiện và nâng cao tính đồng thuận trong giải phóng mặt bằng”, đại biểu Thạch Phước Bình nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, đại biểu Thạch Phước Bình cũng cho rằng, phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cần xác lập rõ thời hạn dự kiến bàn giao nơi tái định cư, mức hỗ trợ tạm cư và trách nhiệm khi chậm bàn giao. Trường hợp bàn giao chậm mà không do lỗi của người dân thì mức hỗ trợ tiền thuê nhà cần được điều chỉnh phù hợp với giá thuê thực tế và thời gian chậm bố trí.
Cùng với đó, Khoản 3 Điều 49 đã quy định cơ chế bảo đảm một suất tái định cư tối thiểu và Khoản 4 giao UBND cấp tỉnh quy định chi tiết. Đại biểu đề nghị Khoản 4 cần xác định các tiêu chí tối thiểu bắt buộc không chỉ dựa vào diện tích hoặc giá trị mà phải tính đến quy mô hộ gia đình nhu cầu sinh hoạt thiết yếu và khả năng tiếp cận hạ tầng xã hội. Như vậy chính sách tái định cư phải bảo đảm người dân có nơi ở thực chất chứ không chỉ bảo đảm một giá trị bồi thường về mặt tài chính.
Về phục hồi sinh kế tại Điều 47, đại biểu Thạch Phước Bình góp ý, cần được cụ thể hóa hơn nội dung này bởi đối với nhiều hộ gia đình việc thu hồi đất không chỉ làm mất một tài sản mà còn làm mất nguồn sinh kế. Vì vậy đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 47 nội dung phục hồi sinh kế. Các biện pháp có thể bao gồm đào tạo chuyển đổi nghề, kết nối việc làm, hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh, bố trí hoặc ưu tiên thuê địa điểm sản xuất thương mại dịch vụ phù hợp. Đồng thời cần quy định trách nhiệm theo dõi và đánh giá kết quả ổn định đời sống phục hồi sinh kế sau thu hồi đất nhất là đối với các dự án có quy mô thu hồi đất và số người bị ảnh hưởng lớn.
"Điểm này cần chuyển từ đánh giá đã hỗ trợ bao nhiêu sang đánh giá người dân có thực sự ổn định cuộc sống hay không", đại biểu Thạch Phước Bình phân tích, đồng thời đề nghị giữ nguyên nguyên tắc tại Khoản 3 Điều 48 là ưu tiên bố trí tái định cư tại chính đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất bị thu hồi, chỉ khi không có điều kiện mới bố trí tại địa bàn khác có điều kiện tương ứng.
Khoản 2 Điều 48 cần bổ sung thêm các tiêu chí về khả năng duy trì việc làm sinh kế học tập chăm sóc y tế và quan hệ cộng đồng, bởi một khu tái định cư đạt đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng quá xa nơi làm việc trường học hoặc không phù hợp sinh kế người dân thì sẽ khó được đồng thuận.
Cần giải quyết dứt điểm tình trạng pháp lý đất nông, lâm trường
Quan tâm đến nhu cầu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang) cho rằng, cần phân biệt rõ 2 tình trạng. Một là những hộ thực sự không có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất. Hai là có những hộ không phải không có đất mà là đã sinh sống, sản xuất ổn định từ lâu nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp.
Trong đó, nhóm thứ 2 khá phổ biến ở địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có những điểm dân cư đã hình thành qua nhiều năm ở những nơi gắn với nương rẫy và sinh kế, nhưng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường chưa được giải quyết dứt điểm, hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, ranh giới chưa rõ hoặc hiện trạng sử dụng đất chồng lấn với quy hoạch lâm nghiệp. Vì vậy người dân có đất sử dụng trên thực tế nhưng chưa có quyền pháp lý đối với đất.
“Khi chưa xác lập được quyền sử dụng đất thì không có quyền, không chỉ không có quyền về đất đai bị hạn chế và người dân còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng, chính sách về nhà ở, hỗ trợ sinh kế và một số chính sách an sinh khác. Do đó nếu chỉ nhìn nhận vào số hộ thiếu đất để thiết kế chính sách thì chưa phản ánh đầy đủ thực trạng. Có trường hợp nhu cầu của người dân không phải là được giao thêm một diện tích đất mới mà là phải được giải quyết dứt điểm tình trạng pháp lý đối với diện tích đất đã sinh sống, sản xuất ổn định qua nhiều năm", đại biểu Lý Thị Lan nhấn mạnh.
Theo đại biểu Lý Thị Lan, việc này cần được xử lý trên nguyên tắc không hợp thức hóa sai phạm nhưng cũng không để những tồn tại lịch sử qua nhiều thời kỳ tiếp tục trở thành rào cản đối với quyền lợi chính đáng của người dân. Đối với diện tích thực sự phải tiếp tục quản lý bảo vệ theo pháp luật về lâm nghiệp, nhất là rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì cần phải quản lý chặt chẽ.
Nhưng đối với những khu vực người dân đã sinh sống, sản xuất ổn định qua nhiều thời kỳ, không tranh chấp, không phải trường hợp lấn chiếm mới thì cần có cơ chế rà soát đồng thời hiện trạng sử dụng đất, hồ sơ địa chính, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nghiệp để phân loại và xử lý theo đúng pháp luật.
Đại biểu Lý Thị Lan đề xuất quy định rõ tiêu chí để phân loại xử lý đối với hộ gia đình cá nhân đã sinh sống sản xuất ổn định nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất, phân biệt với những trường hợp lấn chiếm vi phạm mới phát sinh để vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân vừa giữ nghiêm kỷ cương quản lý đất đai và yêu cầu về bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, cần xác định rõ trách nhiệm thực hiện: Trung ương quy định cơ chế và tiêu chí, cấp tỉnh phải rà soát, xử lý pháp lý đối với quỹ đất được bàn giao, xác định diện tích có thể bố trí đất ở, đất sản xuất; cấp xã rà soát đến từng hộ, xác định nguồn gốc, hiện trạng sử dụng và nhu cầu thực tế.