Nếu xảy ra động đất, nhà chung cư ở Việt Nam có thể chống đỡ thế nào?

VOV.VN - Trước động đất đến 7,4 độ Richter tại Colombia và gần đây tại Venezuela, nhiều người băn khoăn các tòa nhà ở Việt Nam sẽ chịu được động đất bao nhiêu độ Richter?

Theo ông Lê Văn Thịnh, nguyên Trưởng phòng Quản lý chất lượng công trình xây dựng 1, Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng), Việt Nam không nằm trên vành đai động đất mạnh nhưng cũng có những khu vực có nguy cơ xảy ra động đất ở mức trung bình cao như: Khu vực miền núi phía Bắc gồm các tỉnh: Lào Cai, Sơn La, Điện Biên có thể có động đất cấp 7, 8 độ Richter.

Khu vực ven biển miền Trung như: Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa...cũng có thể động đất đến 6, 7 độ Richter. Còn TP.HCM và Nam Bộ thì nguy cơ động đất thấp, nhưng vẫn có thể xảy ra những nứt gãy cục bộ.

Vì thế việc đề phòng nguy cơ động đất luôn cần được nâng cao khi thi công nhà ở, đặc biệt là những tòa nhà cao tầng như chung cư.

Nhà ở Việt Nam chịu được động đất bao nhiêu độ?

Theo ông Thịnh, nhìn chung các toà nhà cao tầng của Việt Nam hiện nay được thiết kế để chịu được các trận động đất có cường độ vừa phải, một số toà nhà cao tầng tại Việt Nam như Landmark 81 ở TP.HCM có thể chịu được động đất lên tới 7 độ Richter.

Tuy nhiên, ở Việt Nam không có tiêu chuẩn xây dựng chống động đất nghiêm ngặt như ở Nhật hay Mỹ do nguy cơ động đất thấp hơn, hiện mới chỉ áp dụng cho một số công trình quan trọng và có rủi ro địa chấn.

Ở Việt Nam phương pháp xây dựng vẫn theo truyền thống là dựa vào hệ thống bê tông cốt thép. Dù có quy định về thiết kế kháng chấn nhưng thực thi chưa nghiêm, nên nhiều công trình không tuân thủ đầy đủ do chi phí cao hoặc thiếu đơn vị giám sát thực hiện.

“Tóm lại Việt Nam có tiêu chuẩn nhưng không chặt chẽ bằng Nhật Bản hay Mỹ do tần suất động đất thấp hơn, công nghệ xây dựng và pháp luật cũng chưa theo kịp”, ông Thịnh cho biết.

Ông Thịnh cũng cho biết, nếu có động đất 6 - 7 độ Richter ở Việt Nam thì mức độ ảnh hưởng đến các toà nhà cao tầng sẽ tuỳ vào các yếu tố như: Thiết kế, chất lượng xây dựng, nền đất và khoảng cách đến tâm chấn.

“Ở Hà Nội, TP.HCM, một số toà nhà hiện đại được thiết kế để chịu động đất ở mức độ nhất định, thường từ 6 - 7 độ Richter. Những toà nhà này có thể rung lắc mạnh nhưng không sụp đổ hoàn toàn. Nhưng những toà nhà cũ, xây dựng kém chất lượng thì có nguy cơ bị đứt sập một phần hoặc đổ sập hoàn toàn nến chấn động quá mạnh“, ông Thịnh nhấn mạnh.

Theo nhiều chuyên gia về xây dựng, kiến trúc, các công trình cao tầng ở Việt Nam đang được xây dựng, thiết kế tương ứng khoảng cấp động đất từ 6 - 8 độ Richter. Vì vậy, các công trình nhà cao tầng hiện nay đều phải có thiết kế đủ tiêu chuẩn được tính toán chống chịu động đất tới cấp 7 và có thể kiểm soát động đất lên tới cấp 8. Nếu có động đất ở mức cao hơn thì chúng ta phải tính toán.

Thông tin với Báo điện tử VTC News, một nguyên thứ trưởng Bộ Xây dựng phân tích thêm: các tòa nhà cao tầng chỉ thực sự nguy hiểm khi động đất đạt cường độ nhất định, ảnh hưởng tới chất lượng, kết cấu, độ an toàn của công trình. Vị trí địa lý của Việt Nam không nằm trong vùng vành đai lửa của Thái Bình Dương nên khả năng không thường xuyên gặp phải những trận động đất mạnh như ở Nhật Bản, Myanmar, Indonesia...

Tuy vậy, đối với các công trình tại Việt Nam, thiết kế công trình chống động đất là một trong những yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo an toàn cho công trình và người sử dụng, đặc biệt trong các khu vực địa chất không ổn định. Và về mặt luật pháp, đơn vị thiết kế các tòa nhà này phải có đủ năng lực khi thiết kế để tuân thủ quy chuẩn đã quy định.

Trong khi đó, theo tính toán của ông Nguyễn Văn Toán, kiến trúc sư Công ty 207 Bộ Quốc phòng, nếu xảy ra kịch bản động đất khoảng 6 độ richter thì các công trình cao tầng ở Việt Nam có thể chịu đựng được. Tuy nhiên, nếu động đất đến 7 độ Richter thì nhiều tòa nhà sẽ đối diện nguy hiểm, nhất là những toà nhà kém chất lượng, tòa nhà cũ hoặc đang xây dựng, chưa được hoàn thiện.

“Tuy nhiên, đó là con số được tính toán trên lý thuyết chứ chưa phải thực tế. Vì Việt Nam nằm cách xa vùng địa chất bị đứt gãy bởi dãy động đất nên thực tế không thường xuyên xảy ra những trận động đất lớn, nhất là ở các khu đô thị đông đúc nhà cao tầng như Hà Nội, TP.HCM...", ông Toán cho biết.

Ngoài ra, khả năng chống chọi của các tòa nhà nếu động đất xảy ra còn phụ thuộc vào từng khu vực địa chất hoặc chất lượng công trình như: quá trình thi công có đảm bảo đúng chất lượng, đúng, đủ vật liệu như thiết kế hay không.

Kiến trúc sư Đặng Hữu Hải, Giám đốc Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng Việt House cũng cho biết, về cơ bản, các nhà cao tầng ở Việt Nam cũng đều được thiết kế để chịu ảnh hưởng bởi tác động từ ngoại lực như gió lớn, động đất. Nhưng khi thiên tai xảy ra ở mức độ mạnh, những tòa nhà có nhiều vật liệu nhẹ như nhiều kính hoặc thiếu hệ thống giảm chấn thì thường dễ bị rạn nứt, bong tróc.

“Tuy nhiên, người dân cũng không cần quá lo lắng vì về mức độ động đất, Hà Nội hay TP.HCM không thuộc diện nơi thường xuyên có những trận lớn diễn ra thường xuyên. Thực tế, nơi hay xảy ra động đất nhẹ ở Việt Nam là vùng Tây Nguyên, nơi có ít nhà cao tầng“, ông Hải cho hay.

Đối với nhà cấp bốn, nhà tạm, nhà dân tự xây, ông Lê Văn Thịnh nhận xét thường không có kỹ sư thiết kế và vẫn có nguy cơ bị sập nếu xảy ra động đất mạnh. Nguyên nhân là những công trình này thường không tuân thủ các tiêu chuẩn chịu lực, sử dụng vật liệu kém chất lượng và thiếu biện pháp gia cố.

Cụ thể, hiện nay, nhà thấp tầng thường không xây dựng theo tiêu chuẩn kháng chấn, trừ một số nơi có nguy cơ động đất cao như: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai...

Nhà bê tông cốt thép thường xây theo kinh nghiệm, có thể chịu được động đất nhẹ nhưng vẫn dễ bị hư hỏng nặng hoặc đổ sập nếu động đất có cường độ lớn (hơn 6 độ Richter).

Tuy nhiên, ông Thịnh cho rằng, nếu xảy ra một trận động đất mạnh thì mức độ an toàn của nhà thấp tầng sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến kết cấu và chất lượng xây dựng. Cụ thể, nhà xây dựng đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, có móng vững chắc, kết cấu khung bê tông cốt thép đạt chuẩn thì khả năng chịu lực sẽ tốt hơn. Ngược lại, nhà xây dựng không đúng kỹ thuật, vật liệu kém chất lượng, móng yếu có thể bị sập ngay cả khi động đất không quá lớn.

Ngoài ra, nếu nhà nằm trên nền đất yếu, gần sông hồ hoặc khu vực dễ sạt lở, thì nguy cơ sụp đổ khi động đất sẽ cao hơn. Khu vực gần đứt gãy địa chất như Tây Bắc hoặc ven biển miền Trung cũng có nguy cơ chịu ảnh hưởng mạnh hơn khi động đất xảy ra.

Cuối cùng là về yếu tố thiết kế, nhà thấp tầng (1-2 tầng) nếu xây dựng theo đúng kỹ thuật thường có khả năng chịu động đất tốt hơn nhà cao tầng. Nhà có tường gạch chịu lực (không có khung bê tông) dễ bị nứt hoặc sập khi rung lắc mạnh.

“Nhà thấp tầng tại Việt Nam có thể an toàn hơn nhà cao tầng trong động đất, nhưng điều này còn phụ thuộc vào chất lượng xây dựng, vị trí địa lý và cách thiết kế. Nếu sống ở khu vực có nguy cơ động đất, bạn nên kiểm tra độ chắc chắn của nhà và có kế hoạch ứng phó phù hợp“, chuyên gia Lê Văn Thịnh kết luận.

Quy chuẩn chống động đất ở Việt Nam thế nào?

Ông Lê Văn Thịnh cho biết, tại Việt Nam, yêu cầu thiết kế chống động đất được quy định bởi pháp luật và là tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết để bảo vệ công trình khỏi các tác động của động đất.

Cụ thể, Điều 91 Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã có quy định về việc đảm bảo an toàn công trình. Theo đó, các công trình xây dựng phải được thiết kế và thi công đảm bảo khả năng chịu lực, tính ổn định và tính bền vững trong điều kiện động đất. Đặc biệt, đối với những khu vực có nguy cơ động đất cao, công trình phải đáp ứng các tiêu chuẩn thiết kế chống động đất theo quy định của pháp luật.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong xây dựng (QCVN 02:2022/BXD) cũng quy định chi tiết về các yêu cầu kỹ thuật trong thiết kế và thi công công trình chống động đất. Các tiêu chuẩn này bao gồm việc đánh giá nguy cơ động đất, tính toán tải trọng động đất và thiết kế cấu trúc phù hợp để chống chịu được các tác động của động đất.

Chủ đầu tư và nhà thầu thiết kế phải tuân theo các bước từ đánh giá nguy cơ động đất; tính toán tải trọng động đất có thể tác động lên công trình có kể đến các yếu tố như độ cứng của đất, cấu trúc địa chất và độ cao của công trình.

Thiết kế cấu trúc của công trình phải đảm bảo khả năng chống chịu được động đất. Cấu trúc này bao gồm các hệ thống khung chịu lực, tường cứng, lõi cứng và các giải pháp kỹ thuật khác nhằm tăng cường độ bền vững của công trình.

Sau khi hoàn thành thiết kế, chủ đầu tư phải nộp hồ sơ để cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định để làm cơ sở phê duyệt thiết kế. Quá trình này đảm bảo rằng thiết kế đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật và an toàn.

Trong quá trình thi công, cần giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các tiêu chuẩn thiết kế chống động đất để đảm bảo chất lượng công trình. Không chỉ các tòa nhà chung cư mà nhà ở tập thể khác từ cấp II trở lên thuộc danh mục công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng nên phải chịu sự kiểm tra của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc UBND cấp tỉnh hoặc của Bộ Xây dựng.

“Trên đây là những yêu cầu bắt buộc mà mọi công trình xây dựng trong khu vực có nguy cơ động đất cần tuân thủ. Thiết kế, thi công công trình chống động đất không chỉ đảm bảo an toàn cho người sử dụng mà còn góp phần bảo vệ tài sản và giảm thiểu thiệt hại trong trường hợp xảy ra động đất. Yêu cầu thiết kế, thi công chống động đất cần được thực hiện đầy đủ và chính xác để đảm bảo chất lượng và độ bền vững của công trình“, ông Thịnh nhấn mạnh.

Phải làm gì để tăng sức chống chịu động đất?

Theo ông Nguyễn Văn Toán, để tăng độ chống chịu của các cao ốc thì ngay từ đầu Bộ Xây dựng phải yêu cầu cao hơn về chất lượng, giống như ở Nhật Bản là yêu cầu độ chống chịu động đất phải từ 7- 7,5 độ Richter.

“Ở Nhật Bản có những chuyên đề nghiên cứu khoa học về độ chống chịu động đất của các nhà cao tầng. Ngay dưới tầng hầm các tòa nhà cao tầng được thiết kế những cái gối có thể di chuyển theo sự rung lắc của động đất. Khi động đất xảy ra, mỗi cái gối này sẽ là những bộ phận giảm chấn, tránh va chạm, từ đó giảm thiệt hại, hạn chế sập đổ nhà”, ông Toán dẫn giải.

Kiến trúc sư Đặng Hữu Hải cũng nhấn mạnh, để đảm bảo an toàn cho các công trình xây dựng và người dân, các cơ quan chức năng và chính quyền cần tăng mức độ rà soát, nhất là những công trình quan trọng, công trình cao tầng cần được thẩm duyệt kỹ hơn. Cùng với đó, trong quá trình thi công cần được kiểm tra thường xuyên và công tác nghiệm thu phải thực chất hơn để sau khi đi vào hoạt động sẽ đảm bảo an toàn hơn cho người sử dụng.

Ngoài ra, phải tăng cường diễn tập, ứng phó với thiên tai để nâng cao khả năng của người dân trong việc ứng phó với các kịch bản động đất từ thấp đến cao.

“Với những toà nhà cao tầng đã hoàn thiện ở Hà Nội hay TP.HCM hiện nay không thể có giải pháp can thiệp về yếu tố kết cấu và không có phương án sửa chữa, khắc phục nào khác bằng việc lắp đặt hệ thống cảnh báo, theo dõi rung lắc, đánh giá độ rung lắc để chủ động ứng phó“, ông Hải nêu ý kiến.

Các chuyên gia khác cho ý kiến, các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM cần phải có bản đồ đánh giá động đất chi tiết để từ đó xây dựng những kịch bản đánh giá nguy hiểm động đất, phục vụ cho việc kháng chấn của công trình xây dựng. Bên cạnh đó cũng cần thiết lập một số thiết bị quan trắc ở các nhà cao tầng ở các quận nội thành để đánh giá định lượng mức độ rung lắc do các trận động đất gây ra.

Ở Việt Nam thường thấy động đất xuất hiện nhiều hơn ở các tỉnh vùng Tây Bắc như Sơn La, Lai Châu, Điện Biên hoặc Tây Nguyên như Kon Tum… nhưng hầu hết cũng chỉ là những trận động đất có độ Richter nhỏ. Còn Hà Nội, TP.HCM về cơ bản nằm trong vùng đồng bằng nên địa chất khá ổn định.

Tuy nhiên, thiên tai là điều không thể dự báo trước nên tuyệt đối không thể chủ quan được. Cần sớm áp dụng những biện pháp theo dõi, giám sát cẩn thận, kỹ lưỡng để giảm thiểu thấp nhất thiệt hại nếu động đất lớn xảy ra.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Nguy cơ động đất ở Hà Nội: Đới đứt gãy sông Hồng "thức" hay "ngủ"?
Nguy cơ động đất ở Hà Nội: Đới đứt gãy sông Hồng "thức" hay "ngủ"?

Từ trận động đất ở huyện Mỹ Đức (Hà Nội), PGS.TS Nguyễn Hồng Phương (Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Vật lý địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chia sẻ về nguy cơ do đới đứt gãy sông Hồng gây ra.

Nguy cơ động đất ở Hà Nội: Đới đứt gãy sông Hồng "thức" hay "ngủ"?

Nguy cơ động đất ở Hà Nội: Đới đứt gãy sông Hồng "thức" hay "ngủ"?

Từ trận động đất ở huyện Mỹ Đức (Hà Nội), PGS.TS Nguyễn Hồng Phương (Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Vật lý địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chia sẻ về nguy cơ do đới đứt gãy sông Hồng gây ra.

Nguyên nhân nào khiến Hà Nội rung lắc như động đất tối nay 18/5?
Nguyên nhân nào khiến Hà Nội rung lắc như động đất tối nay 18/5?

VOV.VN - Tối 18/5, nhiều người dân sống tại các tòa nhà cao tầng ở Hà Nội bất ngờ cảm nhận hiện tượng rung lắc kéo dài vài giây, nghi giống động đất.

Nguyên nhân nào khiến Hà Nội rung lắc như động đất tối nay 18/5?

Nguyên nhân nào khiến Hà Nội rung lắc như động đất tối nay 18/5?

VOV.VN - Tối 18/5, nhiều người dân sống tại các tòa nhà cao tầng ở Hà Nội bất ngờ cảm nhận hiện tượng rung lắc kéo dài vài giây, nghi giống động đất.

Động đất 4,8 độ gần biên giới Việt - Lào, khu vực Thanh Hóa, Hà Nội rung lắc nhẹ
Động đất 4,8 độ gần biên giới Việt - Lào, khu vực Thanh Hóa, Hà Nội rung lắc nhẹ

VOV.VN - Vào 23h26 phút 19 giây (giờ Hà Nội) ngày 12/11, một trận động đất có độ lớn 4,8 xảy ra tại vị trí có tọa độ 20,373 độ vĩ Bắc, 104,572 độ kinh Đông, độ sâu chấn tiêu khoảng 10 km.

Động đất 4,8 độ gần biên giới Việt - Lào, khu vực Thanh Hóa, Hà Nội rung lắc nhẹ

Động đất 4,8 độ gần biên giới Việt - Lào, khu vực Thanh Hóa, Hà Nội rung lắc nhẹ

VOV.VN - Vào 23h26 phút 19 giây (giờ Hà Nội) ngày 12/11, một trận động đất có độ lớn 4,8 xảy ra tại vị trí có tọa độ 20,373 độ vĩ Bắc, 104,572 độ kinh Đông, độ sâu chấn tiêu khoảng 10 km.