6 tháng cuối năm, phấn đấu đạt mục tiêu cả năm 2026 công nghiệp tăng trưởng 12-14%

VOV.VN - Mặc dù chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng 2 con số, ước đạt 10,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng gần 11,4%, tiếp tục là động lực tăng trưởng.

Tuy nhiên, để đạt tăng trưởng GDP cả năm từ 10% trở lên, tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả năm phải đạt từ 12-14%. Điều này cho thấy nhiệm vụ 6 tháng cuối năm là khá nặng nề, đòi hỏi cần quyết liệt các giải pháp thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển. Phóng viên VOV phỏng vấn ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương về các động lực tăng trưởng công nghiệp cần tập trung đẩy mạnh trong 6 tháng cuối năm 2026:

PV. Thưa ông, sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn dắt. Xin ông cho biết những đóng góp cụ thể của các ngành sản xuất công nghiệp như thế nào?

Phó Cục trưởng Phạm Văn Quân: Có thể nói, công nghiệp tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế trong nửa đầu năm 2026. Theo số liệu Cục Thống kê, tính chung 06 tháng đầu năm 2026, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng gần 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ năm 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.

Điểm đáng chú ý là tăng trưởng không chỉ đến từ một vài ngành đơn lẻ mà có sự lan tỏa gần như hầu hết trong các ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp chế biến. Sản xuất kim loại tăng 21,5%; Sản xuất xe có động cơ tăng 17,7%; Sản xuất đồ uống tăng 15,4%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15,0%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,9%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 14,8%...

Từ góc độ quản lý công nghiệp, kết quả này cho thấy ba tín hiệu tích cực:

Thứ nhất, khu vực chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính.

Thứ hai, các ngành công nghiệp chủ lực tăng đồng đều, với chỉ số tăng cao đến rất cao, phản ánh sự tăng tốc tăng trưởng công nghiệp tốt.

Thứ ba, cầu sản xuất trong nước vẫn duy trì, thể hiện qua Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành của 6 tháng đầu 2026 ước tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước.

PV. Công nghiệp tăng trưởng mạnh, IIP tăng ở 34 địa phương nhưng nếu xét yêu cầu tăng trưởng 2 con số thì vẫn chưa đạt. Nguyên nhân thực tế do đâu, thưa ông?

Phó Cục trưởng Phạm Văn Quân: Chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao . Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

Để đạt được mức tăng trưởng "2 con số", các địa phương cần tìm kiếm các nguồn lực tăng trưởng mới mang tính chất đột phá so với hiện trạng công nghiệp trên địa bàn, mà chủ yếu là cần thu hút được các dự án sản xuất công nghiệp quy mô lớn hoặc các ngành, nghề sản xuất mới.

Nguyên nhân nhiều địa phương chưa đạt tăng trưởng IIP như kỳ vọng gồm: Quy mô công nghiệp của một số địa phương vốn đã rất lớn; do đó để tăng trưởng mạnh "2 con số" cần phải nỗ lực rất lớn, có những dự án lớn mới có thể thúc đẩy được.

Hạ tầng giao thông kết nối nội vùng và liên vùng của một số địa phương đang trong quá trình cải tạo, do đó phần nào hạn chế việc lưu thông hàng hóa và số lượng lao động phục vụ sản xuất trong một vài tháng vừa qua.

Quỹ đất dành cho công nghiệp của một số địa phương (trong đó có cả một số thành phố lớn) hoặc đang dần thu hẹp, hoặc là chưa kịp quy hoạch mở rộng theo kịp với kịch bản tăng trưởng công nghiệp 2026 của địa phương, dẫn đến thiếu quỹ đất cho các dự án đầu tư công nghiệp quy mô lớn để có động lực tăng trưởng mới.

Xu thế phát triển của một số địa phương (đặc biệt là các đô thị lớn) dần tiến tới tập trung vào các ngành dịch vụ, tài chính, logistics và R&D hơn là trực tiếp sản xuất.

Nhiều địa phương thiếu hệ thống doanh nghiệp phụ trợ và nguồn nhân lực phù hợp để thu hút đầu tư các dự án sản xuất công nghiệp quy mô lớn tạo nguồn lực tăng trưởng mới.

PV. Vậy đâu là động lực tăng trưởng công nghiệp 6 tháng cuối năm để đạt mục tiêu tăng trưởng 12-14% của ngành Công Thương?

Phó Cục trưởng Phạm Văn Quân: Có thể nói đây là mục tiêu khá thách thức đối với ngành Công Thương. Tuy nhiên, về phía Bộ Công Thương thì chúng tôi cũng đã xây dựng Chiến lược phát triển Công Thương, trong đó thị trường có vai trò dẫn dắt, năng lượng đồng hành và công nghiệp là động lực chính để triển khai đạt mục tiêu đề ra.

Thế nhưng, để đạt được mục tiêu này thì không chỉ Bộ Công Thương mà tôi nghĩ là các địa phương cũng cần phải đồng hành cùng với Bộ Công Thương. Và qua quá trình làm việc với địa phương và các nhà đầu tư thì chúng tôi thấy rằng các nhà đầu tư quan tâm đến 3 yế tố chính mà chúng tôi gọi là “3 Đ”. “Đ” thứ nhất là đất, “Đ” thứ hai là điện và “Đ” thứ ba là đầu người, thì cái này các địa phương cũng cần phải quan tâm.

Thứ nhất là làm sao bố trí quỹ đất đủ lớn, đủ để thu hút được những nhà đầu tư lớn, những “đại bàng” đến làm tổ.

Thứ hai, về phía điện thì Bộ Công Thương cũng đã đồng hành và qua quá trình làm việc với các địa phương về tìm hiểu khó khăn vướng mắc thì chúng ta thấy tăng trưởng điện trong giai đoạn sắp tới là rất là khó khăn và địa phương cũng cần chung tay với chúng tôi để giải tỏa những điểm nghẽn của những dự án điện lớn, để phát triển, đáp ứng đủ tiêu chí về điện. Khi chúng ta đồng hành cùng nhau để nghiên cứu, bố trí quy hoạch phát triển hệ thống điện để đảm bảo trước khi các dự án đi vào triển khai thực tế.

Vấn đề thứ 3 là “đầu người” thì các địa phương cũng cần quan tâm. Vì các doanh nghiệp chất lượng cao cũng yêu cầu nguồn nhân lực chất lương khá cao, không chỉ là lao động nhân công đâu, thì cái này chúng ta phải đầu tư bài bản ngay từ bây giờ thì mới thu hút được các doanh nghiệp lớn tham gia.

Về vai trò của Bộ Công Thương, chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển thị trường, thúc đẩy thị trường xuất khẩu song song với mở rộng thị trường trong nước. Bên cạnh các thị trường truyền thống như Mỹ, châu Âu, các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử và linh kiện điện tử, dệt may, da – giày, chế biến thực phẩm cần mở rộng ra các thị trường tiềm năng khác như ASEAN, Nga, Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc), Canada, Mexico… Đây là những thị trường có các yêu cầu về xuất xứ hàng hóa phù hợp với thế mạnh của các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng về dư địa tăng trưởng mới cho các ngành này trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu lớn truyền thống đang có nhiều rào cản thuế quan và tiêu chuẩn sản phẩm.

Đối với thị trường trong nước, các dự án lớn trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, giao thông… trong thời gian tới sẽ có khả năng tạo ra các đơn hàng tiềm năng cho các ngành công nghiệp chế tạo, cần tận dụng tốt để nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước.

Một điểm nữa là triển khai quyết liệt các chính sách mới của Chính phủ về tăng trưởng 2 con số. Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 yêu cầu cập nhật kịch bản tăng trưởng, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, điều hành linh hoạt thuế xăng dầu, thu hút FDI, phát triển doanh nghiệp và trình Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết 169/NQ-CP cũng giao chỉ tiêu tăng trưởng cho 34 địa phương, yêu cầu địa phương tăng trưởng thấp phải rà soát điểm nghẽn, xác định động lực mới và cập nhật kịch bản hằng tháng, hằng quý.

Cùng với đó là phát triển doanh nghiệp công nghiệp trong nước. Đây là động lực căn cơ nhất. Nếu doanh nghiệp Việt Nam nâng được năng lực công nghệ, quản trị, chất lượng và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tăng trưởng công nghiệp sẽ bền vững hơn, không chỉ tăng về sản lượng mà còn tăng về giá trị gia tăng. Bộ Công Thương đang xây dựng Luật công nghiệp trọng điểm, sau khi ban hành hi vọng sẽ là cơ chế đột phá nhằm phát triển DN nội địa.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Bộ Công Thương lý giải vì sao xăng E10 RON95-III và E10 RON95-V có giá khác nhau
Bộ Công Thương lý giải vì sao xăng E10 RON95-III và E10 RON95-V có giá khác nhau

VOV.VN - Hiện nay, trên thị trường đang có các mặt hàng xăng là E5 RON92 và E10 RON95. Theo Nghị quyết số 29/NQ-CP của Chính phủ, xăng E10 RON95-III được cho phép thí điểm là mặt hàng tiêu dùng phổ biến để điều hành giá.

Bộ Công Thương lý giải vì sao xăng E10 RON95-III và E10 RON95-V có giá khác nhau

Bộ Công Thương lý giải vì sao xăng E10 RON95-III và E10 RON95-V có giá khác nhau

VOV.VN - Hiện nay, trên thị trường đang có các mặt hàng xăng là E5 RON92 và E10 RON95. Theo Nghị quyết số 29/NQ-CP của Chính phủ, xăng E10 RON95-III được cho phép thí điểm là mặt hàng tiêu dùng phổ biến để điều hành giá.

Tiền điện tăng cao tháng 6, đề xuất giá điện theo khung giờ làm nóng Họp báo Bộ Công Thương
Tiền điện tăng cao tháng 6, đề xuất giá điện theo khung giờ làm nóng Họp báo Bộ Công Thương

VOV.VN - Tiền điện sinh hoạt của nhiều hộ dân tăng cao trong tháng 6; tác động của đề xuất thay đổi cách tính giá điện sinh hoạt giờ thấp điểm và cao điểm; cơ chế hỗ trợ người dân lắp hệ thống điện mặt trời mái nhà là những nội dung được tập trung hỏi đáp tại họp báo thường kỳ Bộ Công Thương quý II/2026.

Tiền điện tăng cao tháng 6, đề xuất giá điện theo khung giờ làm nóng Họp báo Bộ Công Thương

Tiền điện tăng cao tháng 6, đề xuất giá điện theo khung giờ làm nóng Họp báo Bộ Công Thương

VOV.VN - Tiền điện sinh hoạt của nhiều hộ dân tăng cao trong tháng 6; tác động của đề xuất thay đổi cách tính giá điện sinh hoạt giờ thấp điểm và cao điểm; cơ chế hỗ trợ người dân lắp hệ thống điện mặt trời mái nhà là những nội dung được tập trung hỏi đáp tại họp báo thường kỳ Bộ Công Thương quý II/2026.

Bộ Công Thương nói gì về việc giá xăng dầu giảm, giá nhiều mặt hàng vẫn cao?
Bộ Công Thương nói gì về việc giá xăng dầu giảm, giá nhiều mặt hàng vẫn cao?

VOV.VN - Thứ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh, khi giá xăng dầu đã giảm, doanh nghiệp cũng cần điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ giảm theo tương ứng với các yếu tố đầu vào. Đây là yêu cầu phù hợp với logic kinh tế. Cần từ bỏ tâm lý cố tình đầu cơ, găm hàng để giữ giá cao bất hợp lý.

Bộ Công Thương nói gì về việc giá xăng dầu giảm, giá nhiều mặt hàng vẫn cao?

Bộ Công Thương nói gì về việc giá xăng dầu giảm, giá nhiều mặt hàng vẫn cao?

VOV.VN - Thứ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh, khi giá xăng dầu đã giảm, doanh nghiệp cũng cần điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ giảm theo tương ứng với các yếu tố đầu vào. Đây là yêu cầu phù hợp với logic kinh tế. Cần từ bỏ tâm lý cố tình đầu cơ, găm hàng để giữ giá cao bất hợp lý.

Tiêu thụ điện tăng đột biến: Bộ Công Thương khẳng định đảm bảo cung ứng đủ điện
Tiêu thụ điện tăng đột biến: Bộ Công Thương khẳng định đảm bảo cung ứng đủ điện

VOV.VN -Thông tin tại họp báo Chính phủ thường kỳ trưa nay (4/7), Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, trong các tháng từ tháng 4/2026 đến tháng 6/2026, nước ta đã xuất hiện 3 đợt thời tiết nắng nóng gay gắt trên diện rộng và đồng thời tại cả ba miền, làm nhu cầu sử dụng điện tăng cao đột biến.

Tiêu thụ điện tăng đột biến: Bộ Công Thương khẳng định đảm bảo cung ứng đủ điện

Tiêu thụ điện tăng đột biến: Bộ Công Thương khẳng định đảm bảo cung ứng đủ điện

VOV.VN -Thông tin tại họp báo Chính phủ thường kỳ trưa nay (4/7), Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, trong các tháng từ tháng 4/2026 đến tháng 6/2026, nước ta đã xuất hiện 3 đợt thời tiết nắng nóng gay gắt trên diện rộng và đồng thời tại cả ba miền, làm nhu cầu sử dụng điện tăng cao đột biến.

Bộ Công Thương điểm danh những nhóm mặt hàng có nguy cơ cao phòng vệ thương mại
Bộ Công Thương điểm danh những nhóm mặt hàng có nguy cơ cao phòng vệ thương mại

VOV.VN - Ngay cả những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu chỉ vài triệu USD mỗi năm cũng không nằm ngoài tầm ngắm của các cuộc điều tra phòng vệ thương mại. Trước xu hướng này, doanh nghiệp Việt được khuyến nghị nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu và cạnh tranh bằng chất lượng thay vì giá bán.

Bộ Công Thương điểm danh những nhóm mặt hàng có nguy cơ cao phòng vệ thương mại

Bộ Công Thương điểm danh những nhóm mặt hàng có nguy cơ cao phòng vệ thương mại

VOV.VN - Ngay cả những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu chỉ vài triệu USD mỗi năm cũng không nằm ngoài tầm ngắm của các cuộc điều tra phòng vệ thương mại. Trước xu hướng này, doanh nghiệp Việt được khuyến nghị nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu và cạnh tranh bằng chất lượng thay vì giá bán.