Giải bài toán thị trường vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
VOV.VN - Bài toán thị trường vốn không chỉ là huy động thêm vốn, còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn, đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn, để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn.
Thị trường vốn là yếu tố quan trong để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030. Cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức rất cao (khoảng 146% tới cuối năm 2025), thuộc nhóm cao nhất đối với các nước có mức thu nhập trung bình thấp. Điều này đặt ra không ít thách thức trong công tác điều hành, nhất là đối với vấn đề cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản.
Thị trường vốn phải lớn nhanh hơn
Tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà Đầu tư tổ chức sáng 23/7, Nhà báo Phạm Đức Sơn - Tổng Biên tập tạp chí cho rằng, ngoài kênh vốn tín dụng, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt trên 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Dư nợ trái phiếu DN mới đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 10% GDP… những con số còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.
Ngay ở Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng DN với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng" diễn ra ngày18/7 vừa qua, Thủ tướng tiếp tục yêu cầu phát triển lành mạnh thị trường vốn, thị trường trái phiếu DN; ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn.
“Hội thảo nhằm tạo diễn đàn đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và cộng đồng DN; qua đó góp ý, đề xuất giải pháp phát triển thị trường vốn đồng bộ và bền vững, thúc đẩy hình thành mô hình dẫn vốn cân bằng hơn giữa hệ thống ngân hàng và thị trường vốn, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới”, nhà báo Phạm Đức Sơn đề dẫn.
Nhận định mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cho rằng, trong giai đoạn tăng trưởng trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động quanh mức 39% - 43%. Vốn, bao gồm tiền, công nghệ, máy móc, trang thiết bị và một phần nguồn nhân lực, thường đóng góp từ 45% đến trên 50% vào tăng trưởng kinh tế.
“Tuy nhiên, các nền kinh tế không thể duy trì lâu dài mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động, phải chuyển dần sang khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và nâng cao năng suất. Việt Nam cần đi tắt, đón đầu bằng cách kết hợp đồng thời 3 yếu tố, gồm đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay vì phát triển tuần tự. Cùng với huy động vốn, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực hợp lý, hiệu quả có ý nghĩa quyết định”, TS. Cấn Văn Lực phân tích.
Để đạt mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10% đến năm 2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031 - 2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng, khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, chiếm 65% tổng nhu cầu vốn.
Theo TS. Cấn Văn Lực, vốn tư nhân phải đóng góp gần 2/3 nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn. Nguồn lực tài chính cho nền kinh tế hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công và vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, mỗi kênh đều đang tồn tại những giới hạn nhất định. Kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng. Đầu tư công còn khả năng mở rộng, song hiệu quả sử dụng vốn cần được cải thiện khi quy mô đầu tư ngày càng lớn.
Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn. Thị trường vốn phải phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.
Sớm đồng bộ thể chế thị trường tài chính
Đánh giá về thị trường chứng khoán, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra 5 nhóm rủi ro, thách thức lớn, gồm mức độ biến động cao; dòng tiền và vốn hóa tập trung vào một số ngành, doanh nghiệp lớn; tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân cao, tâm lý đám đông mạnh; tính minh bạch, chuyên nghiệp còn hạn chế; sản phẩm và cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng. Bên cạnh đó, thị trường còn đối mặt với rủi ro an ninh mạng, an toàn thông tin, dữ liệu và tội phạm tài chính gia tăng. Hệ thống công nghệ, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, xếp hạng tín nhiệm và chế độ báo cáo tài chính vẫn còn nhiều bất cập.
Theo TS. Cấn Văn Lực, điểm nghẽn quan trọng nằm ở thể chế thị trường tài chính chưa thực sự đồng bộ. Khung pháp lý đối với các mô hình kinh doanh và sản phẩm tài chính mới còn chậm được ban hành; sở hữu chéo dù đã giảm nhưng vẫn phức tạp; rủi ro liên thông giữa hệ thống tài chính và bất động sản cần được giám sát chặt chẽ hơn.
Do đó, TS. Cấn Văn Lực kiến nghị ban hành 1 chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh. “Thị trường cũng cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; đồng thời phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh, tài chính số, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp”, TS. Cấn Văn Lực đề xuất.
TS. Cấn Văn Lực cũng cho rằng, quá trình phát triển thị trường tài chính cần dựa trên ba nền tảng cốt lõi: Thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, kỷ luật thị trường nghiêm minh. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ và xử lý các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và hệ thống cảnh báo sớm; chuyển từ tiền kiểm hành chính sang quản lý, giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu...