Giống lúa chất lượng cao - Nền tảng nâng tầm gạo Việt
VOV.VN - Ngành lúa gạo Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái cơ cấu theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất cả nước ngày càng chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, mặn xâm nhập và chi phí sản xuất gia tăng, việc nghiên cứu, chọn tạo và chuyển giao các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện sinh thái được xem là một trong những giải pháp then chốt.
Ông Nguyễn Văn Vững, xã Ba Sao, tỉnh Đồng Tháp cho biết, khu vực sản xuất ở địa phương nơi ông chủ yếu là đất phèn nên việc lựa chọn giống lúa phải phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng. Qua nhiều vụ sản xuất, ông đánh giá các giống lúa do Viện Lúa ĐBSCL chọn tạo như OM17, OM18, OM19 và OM54 đều có nhiều ưu điểm. Trong đó, OM17 có chất lượng gạo ngon, dễ tiêu thụ, còn OM18 có hạt gạo dài, thích nghi tốt với điều kiện sản xuất của địa phương.
"Tôi thấy giống OM18 đạt chuẩn nhất và đã sản xuất được nhiều vụ. Trong đó nổi bật về năng suất, lại dễ canh tác, rất phù hợp. Tùy theo mùa vụ, nếu thời tiết thuận lợi thì khoảng 97 ngày là thu hoạch", ông Vững nói.
Hiện nay, trên 80% cơ cấu giống lúa tại ĐBSCL là lúa thơm và lúa chất lượng cao. Những giống chủ lực gồm OM18, Đài Thơm 8, OM5451, IR50404, ST25, OM380, OM34... Trong đó, OM18 là giống ngắn ngày, chất lượng gạo tốt, thích nghi với điều kiện phèn - mặn, diện tích gieo trồng năm 2024 đã vượt 1 triệu ha. OM5451 cũng là giống ngắn ngày, năng suất cao, thích nghi rộng, ít nhiễm sâu bệnh, hiện vẫn duy trì trên 700.000 ha mỗi năm.
Là đơn vị đầu ngành về nghiên cứu giống lúa, thời gian qua Viện Lúa ĐBSCL đã lai tạo và công bố hơn 180 giống lúa phục vụ sản xuất, góp phần nâng cao sản lượng lương thực và thúc đẩy xuất khẩu gạo. Các giống mang ký hiệu OM hiện chiếm khoảng 60-70% diện tích gieo trồng tại ĐBSCL. Nhiều giống chủ lực như OM5451, OM18, OM6976, OM4900 và OM6162 không chỉ được sản xuất rộng rãi trong nước mà còn được mở rộng sang nhiều quốc gia ở Đông Nam Á, Nam Á và châu Phi.
Trong bối cảnh Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá cho phát triển đất nước, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa tại Viện lúa ĐBSCL cũng đang chuyển mạnh theo hướng ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ số và khai thác hiệu quả nguồn gen nhằm tạo ra các giống lúa có chất lượng cao, chống chịu tốt với biến đổi khí hậu và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Đến nay, đã có 51 doanh nghiệp tham gia khai thác và thương mại hóa các giống lúa của Viện, trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Lộc Trời, Công ty Giống cây trồng Trung ương và Tập đoàn Thái Bình.
Theo TS Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, trước diễn biến ngày càng gay gắt của hạn hán và mặn xâm nhập, Viện đã kịp thời nghiên cứu, chọn tạo và khuyến cáo đưa vào sản xuất nhiều giống lúa có khả năng chịu mặn từ 2-4‰ như OM2517, OM8959, OM11735, OM9582, OM9577, OM429 và OM380
"Rất tự hào khi chúng ta đã tham gia sâu vào thị trường xuất khẩu gạo. Trong đó phân khúc gạo trắng hạt dài chiếm lĩnh thị trường rất cao và mang lại lợi nhuận nhiều. Bên cạnh đó, các giống lúa của Viện vẫn chiếm đa số trong các giống trồng xuất khẩu. Như giống OM18 chiếm trên 1 triệu ha", Theo TS Trần Ngọc Thạch chia sẻ.
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam cho rằng, cơ cấu giống lúa của vùng hiện đã chuyển mạnh sang nhóm giống chất lượng cao phục vụ xuất khẩu như OM18, Đài Thơm 8 và OM5451. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng giống xác nhận mới chỉ đạt khoảng 25% diện tích sản xuất. Do đó, Hiệp hội khuyến nghị các địa phương tập trung phát triển từ một đến hai giống chủ lực phù hợp điều kiện sinh thái, đồng thời giảm lượng giống gieo sạ theo đúng quy trình kỹ thuật nhằm giảm chi phí, tăng hiệu quả sản xuất và giảm phát thải.
Theo ông Tùng, mặc dù chất lượng gạo Việt Nam ngày càng được nâng lên nhưng giá trị gia tăng của hạt gạo và thu nhập của người nông dân vẫn chưa tương xứng. Nguyên nhân là sản xuất còn phân tán, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ, việc sử dụng giống chưa đồng bộ và yêu cầu về an toàn thực phẩm chưa được thực hiện đầy đủ. Vì vậy, Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển mạnh cho ngành hàng lúa gạo trong thời gian tới.
"Hiệp hội rất muốn làm cầu nối giữa hợp tác xã, nông dân, doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và cơ quan chuyên môn để cùng thực hiện thành công mục tiêu của Đề án 1 triệu hecta. Qua đó thúc đẩy sản xuất xanh, giảm phát thải, mở rộng vùng nguyên liệu và xây dựng chuỗi liên kết cho hạt gạo phát thải thấp của Đồng bằng sông Cửu Long", ông Lê Thanh Tùng nói.
Trong bối cảnh ngành lúa gạo đang chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng và phát triển bền vững, công tác chọn tạo giống không chỉ hướng đến năng suất hay chất lượng gạo, mà còn phải đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính.
TS Trần Ngọc Thạch phân tích, hệ thống giống lúa của Việt Nam hiện đã đạt nhiều thành tựu về chất lượng gạo như độ dẻo, hương thơm và giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, yêu cầu của thị trường trong tương lai sẽ cao hơn, đòi hỏi giống lúa không chỉ có chất lượng vượt trội mà còn phải phù hợp với các quy trình canh tác tiết kiệm nước, giảm phát thải và thích ứng tốt với điều kiện khí hậu cực đoan.
Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnh việc lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển. Đối với ngành lúa gạo, điều đó không chỉ là nghiên cứu ra những giống lúa năng suất, chất lượng cao mà còn đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học vào quy trình sản xuất, quản lý giống, giảm phát thải và nâng cao sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
"Chúng tôi có trách nhiệm tạo các sảm phẩm giống cho người nông dân. Người dân trên các sản phẩm giống để sản xuất mang lại lợi ích kinh tế. Để nghiên cứu, tạo ra sản phẩm, hiện nay chúng tôi cũng cân đối về nhu cầu thị trường hiện nay, với phân khúc gạo thơm chúng ta có gì, phân khúc gạo trắng hạt dài có gì v.v.. Đối với các nguồn lực thì chúng tôi sẽ tập trung các phần việc lớn như phân khúc gạo trắng hạt dài với giá thành sản xuất thấp, giá xuất khẩu cao. Còn một số phân khúc khác thì có những phần để cho khối ngoài nhà nước, các doanh nghiệp tham gia như phân khúc gạo thơm", TS Trần Ngọc Thạch cho biết.
Tại vùng ĐBSCL, từ những cánh đồng thích ứng với hạn hán, mặn xâm nhập đến mục tiêu xây dựng vùng chuyên canh 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vào năm 2030, giống lúa tiếp tục giữ vai trò “then chốt” trong quá trình tái cơ cấu ngành lúa gạo. Với định hướng của Nghị quyết số 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng sự đồng hành của các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và người nông dân, những giống lúa thế hệ mới kỳ vọng là nền tảng để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam, xây dựng nền sản xuất xanh, phát thải thấp và phát triển bền vững.