Minh bạch quy trình, định danh gạo phát thải thấp
VOV.VN - Vùng ĐBSCL đang bước vào chặng đường xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”. Việc xây dựng công cụ đánh giá quy trình canh tác lúa phát thải thấp được xem là bước quan trọng để triển khai hiệu quả Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL.
LTS: Trong phần đầu của loạt bài “Giảm phát thải, nâng tầm gạo Việt”, nhóm phóng viên đã phản ánh sự thay đổi của người dân, HTX trong vùng để đưa hạt gạo Việt vào các thị trường khó tính. Tuy nhiên, để chuyển từ những mô hình thí điểm sang sản xuất quy mô lớn không chỉ thay đổi tập quán canh tác mà còn phải xây dựng được hệ thống quản lý minh bạch, số hóa dữ liệu và cơ chế chứng nhận đủ độ tin cậy.
Ở phần tiếp theo của loạt bài, nhóm phóng viên làm rõ vai trò của công cụ số ViRiCert, nền tảng được kỳ vọng giúp “định danh” hạt gạo phát thải thấp, hỗ trợ quản lý vùng nguyên liệu, kiểm chứng quy trình canh tác và từng bước nâng cao vị thế gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Vùng ĐBSCL đang bước vào chặng đường xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”. Việc xây dựng công cụ đánh giá quy trình canh tác lúa phát thải thấp (ViRiCert) được xem là bước quan trọng để triển khai hiệu quả Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030. Thông qua hệ thống đánh giá hướng tới minh bạch quy trình sản xuất, số hóa dữ liệu và tăng khả năng truy xuất, kiểm chứng, qua đó nâng cao niềm tin của hạt gạo Việt Nam tại thị trường trong nước và quốc tế.
Là trung tâm vùng ĐBSCL, thành phố Cần Thơ tham gia Đề án với diện tích hơn 170.000 ha. Qua triển khai, các mô hình bước đầu ghi nhận nhiều kết quả tích cực, khẳng định hướng đi sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp là đúng đắn và khả thi. Tuy nhiên, để hạt gạo phát thải thấp tham gia các thị trường cao cấp, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh quốc tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là “sản xuất xanh” mà còn phải “chứng minh được quá trình sản xuất xanh”.
Từ góc độ địa phương triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, ông Trần Văn Liêm, Phó Chủ tịch UBND phường Ngã Năm, TP, Cần Thơ cho biết, với lợi thế là vùng lúa nguyên liệu trồng giống lúa ST25, do đó có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai mô hình và áp dụng công cụ đánh giá quy trình canh tác lúa phát thải thấp. Trong vụ lúa tới, địa phương sẽ thực hiện và thí điểm thực hiện mô hình.
Tuy nhiên, theo đánh giá việc triển khai Đề án vẫn còn nhiều khó khăn do hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ; việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch, đặc biệt ở vụ Hè Thu còn khó khăn. Đối với những vùng sản xuất ở khu vực trũng, thấp, lượng rơm rạ tồn đọng trên đồng ruộng lớn, gây ảnh hưởng đến môi trường và sản xuất. Vì vậy, cần giải pháp căn cơ để xử lý rơm rạ hiệu quả, giảm tình trạng đốt đồng hoặc để rơm phân hủy tự nhiên gây phát thải khí nhà kính, nhất là tại các vùng sản xuất lúa trọng điểm ở ĐBSCL.
Ông Trần Văn Liêm cho rằng, yếu tố an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm cần được xem là tiêu chí quan trọng trong đánh giá mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, qua đó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường.
“Đối với phát thải thấp thì có ba vấn đề chính, một là giảm giống, hai là cái ướt khô, xen kẽ, ba là cái đốt đồng. Hiện nay đối với Ngã Năm là cái vùng trũng, đối với thu rơm rạ vụ Hè Thu là rất khó, trong nhiều năm qua ở cái khu vực này thu rơm rạ hầu như là phơi mục ở ngoài ruộng, tuy nhiên số lượng nó lớn hầu như là hàng năm ngộ độc hữu cơ rất là nhiều. Đây là một cái trăn trở đối với cái vùng trũng của Ngã Năm” - ông Liêm chia sẻ.
Thành phố Cần Thơ đang định hướng triển khai cấp mã số vùng trồng cho các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp trong Đề án 1 triệu ha lúa chuyên canh vùng ĐBSCL. Mục tiêu của địa phương đến năm 2030 sẽ có khoảng 170.000 ha lúa chất lượng. Việc xây dựng mã số vùng trồng được xem là yêu cầu quan trọng nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.
Bà Trần Thị Kim Thúy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ cho biết, việc ứng dụng công cụ ViRiCert sẽ hỗ trợ quản lý dữ liệu sản xuất, giám sát mức độ tuân thủ quy trình canh tác của từng nông hộ và hợp tác xã. Hệ thống cũng giúp số hóa nhật ký đồng ruộng, minh bạch thông tin vùng nguyên liệu và tạo cơ sở kết nối với doanh nghiệp tiêu thụ. Thời gian tới, Cần Thơ sẽ phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý mã số vùng trồng gắn với chuyển đổi số ngành lúa gạo, hướng tới phát triển ngành hàng lúa gạo minh bạch, chất lượng và bền vững.
“Mình ứng ứng công cụ ViRiCert này trong việc quản lý dữ liệu canh tác của bà con nông dân tại các HTX thì đây là nguồn dữ liệu hoàn toàn chúng ta có thể truy suất được nguồn gốc của sản phẩm mà HTX; đồng thời duy trì quy trình sản xuất theo đề án 1 triệu hecta. Đối với UBND xã, phường, chúng tôi cũng đề nghị rà soát, lựa chọn lại các hộ hoặc là HTX đủ điều kiện để tham gia mã số vùng trồng cũng như là xác định những thông tin vùng trồng phối hợp trong việc là giám sát việc duy trì cái điều kiện về mã số vùng trồng” - bà Thúy thông tin.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thanh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Vĩnh Long, việc triển khai quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp phù hợp với định hướng phát triển ngành hàng lúa gạo. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần có công cụ đánh giá cụ thể để xác định mức độ đáp ứng các tiêu chí, đồng thời quản lý việc lưu trữ hồ sơ, dữ liệu sản xuất và phục vụ công tác chứng nhận trong thời gian tới.
Ông Nguyễn Ngọc Thanh cho biết, thông qua bộ công cụ đánh giá ViRiCert giúp các hợp tác xã và nông dân có thể thuận lợi hơn trong việc theo dõi quá trình sản xuất, lưu trữ dữ liệu, minh chứng quy trình canh tác cũng như phục vụ truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, công cụ này được đánh giá có tính thực tiễn cao, hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý và triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại địa phương trong thời gian tới.
“Hiện nay chúng ta đang từng bước làm theo Đề án 1 triệu hecta lúa, tuy nhiên các vấn đề đánh giá chúng ta đạt được mức độ nào trong các tiêu chí đề án, công tác lưu trữ, lưu trữ hồ sơ chúng ta đạt được rồi chúng ta lưu trữ như thế nào, chúng ta tiến tới chứng nhận như thế nào thì đây là những bước sắp tới chúng ta phải làm. Qua được cái công cụ đánh giá phần mềm các bước trong thực hiện sắp tới tôi thấy rất là hiệu quả, thì địa phương có thể đưa vào ứng dụng trong thời gian tới” - ông Thanh nhấn mạnh.
Bộ công cụ đánh giá “Gạo Việt xanh phát thải thấp” được xây dựng nhằm lượng hóa và minh bạch toàn bộ quy trình sản xuất trong Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL. Hệ thống đánh giá được thiết kế theo phương pháp chấm điểm cụ thể cho từng tiêu chí sản xuất để nông dân, hợp tác xã dễ theo dõi và áp dụng. Một số tiêu chí được xem là điều kiện bắt buộc để đạt chứng nhận như không đốt rơm rạ trên đồng và thực hiện rút nước giữa vụ ít nhất hai lần, mỗi lần tối thiểu 3 ngày không ngập nước. Nếu không đạt các tiêu chí này, nông dân hoặc hợp tác xã sẽ không được công nhận đạt chuẩn, dù tổng điểm cao.
Ông Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia khoa học của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) cho biết, công cụ đánh giá không chỉ đo lường mức độ tuân thủ quy trình phát thải thấp mà còn tạo cơ chế minh bạch, công bằng giữa các hộ sản xuất và hợp tác xã thông qua việc quy đổi theo tỷ lệ diện tích đạt chuẩn. Các hợp tác xã được đánh giá dựa trên tổng diện tích đạt yêu cầu so với diện tích sản xuất toàn đơn vị.
Theo ông Nguyễn Văn Hùng, thời gian tới hệ thống sẽ tiếp tục được hoàn thiện, tích hợp với mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc nhằm nâng cao tính minh bạch, gia tăng giá trị và uy tín thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việc xây dựng công cụ đánh giá ViRiCert cùng hệ thống mã số vùng trồng đang từng bước tạo nền tảng cho quá trình “định danh” hạt gạo phát thải thấp của Việt Nam. Khi toàn bộ quy trình sản xuất được số hóa, giám sát và kiểm chứng minh bạch, hạt gạo Việt không chỉ cạnh tranh bằng sản lượng hay giá thành mà còn bằng chất lượng, mức phát thải thấp và khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Trong phần cuối của loạt bài “Giảm phát thải, nâng tầm gạo Việt”, nhóm phóng viên sẽ làm rõ sự thay đổi tư duy sản xuất của nông dân, vai trò liên kết của hợp tác xã, doanh nghiệp cùng sự hoàn thiện cơ chế quản lý, chứng nhận từ các cơ quan chức năng nhằm từng bước xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” minh bạch, uy tín và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cùng loạt bài "Giảm phát thải, nâng tầm gạo Việt":
Bài 1: Chuyển đổi xanh cho hạt gạo Đồng bằng sông Cửu Long
Bài 2: Minh bạch quy trình, định danh gạo phát thải thấp
Bài 3: Xây dựng thương hiệu gạo Việt xanh phát thải thấp