Mỹ áp thuế bổ sung 12,5%, xuất khẩu có thích ứng với "luật chơi" thương mại mới?
VOV.VN - Trước mức thuế bổ sung từ Mỹ, khả năng duy trì và mở rộng vị thế của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc tiếp tục nâng cao năng suất, tốc độ, tính linh hoạt, năng lực phát triển sản phẩm và khả năng truy xuất, tính tuân thủ.
Từ ngày 24/7/2026, Mỹ áp mức thuế bổ sung đối với hàng hóa nhập khẩu từ 60 nền kinh tế theo Mục 301, Việt Nam chịu mức thuế bổ sung 12,5% cộng trực tiếp vào thuế tối huệ quốc (MFN). Cộng đồng DN xuất khẩu Việt Nam đang đứng trước áp lực phải thích ứng với những thay đổi của "luật chơi" thương mại.
Thuế bổ sung chưa làm thay đổi căn bản vị thế
Trong đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng sợi dệt tăng gần 36% so với cùng kỳ, trong khi hàng may mặc tăng 1% so với cùng kỳ và duy trì được vị thế số 1 về thị phần tại Mỹ. Theo TS. Hoàng Mạnh Cầm, Chánh Văn phòng HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), Việt Nam nằm trong nhóm nguồn cung được sử dụng rộng nhất tại Mỹ, với 78,9% số DN cho biết đang mua hàng từ Việt Nam, ngang Campuchia, Bangladesh và Indonesia; cao hơn Trung Quốc và Ấn Độ cùng ở mức 73,7%.
“Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam dẫn đầu nguồn cung nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ với khoảng 22,2% thị phần về giá trị, khoảng 58% DN khảo sát vẫn mua trên 10% tổng lượng hoặc giá trị hàng may mặc từ Việt Nam”, TS. Hoàng Mạnh Cầm thông tin.
Đáng chú ý hơn là chất lượng vị thế cạnh tranh. TS. Hoàng Mạnh Cầm phân tích, trên thang điểm 1-5, Việt Nam đạt 3,9 điểm về chi phí, 3,6 điểm về tính linh hoạt và khả năng thích ứng, 3,5 điểm về tích hợp theo chiều dọc và 3,1 điểm về khả năng đáp ứng đơn hàng tối thiểu (MOQ). Điều này cho thấy, trong nhóm châu Á, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về tính linh hoạt và có hồ sơ cạnh tranh tương đối cân bằng. Bangladesh nổi bật hơn về chi phí nhưng yếu hơn về MOQ; cả Bangladesh và Campuchia đều có điểm tích hợp dọc thấp hơn Việt Nam.
“Nền tảng này giúp Việt Nam chống chịu tốt hơn trước chênh lệch thuế 2,5 điểm phần trăm. Với đơn hàng yêu cầu kỹ thuật, thời gian giao nhanh, quy mô biến động hoặc cần phối hợp phát triển sản phẩm, chi phí và rủi ro chuyển nhà cung cấp có thể lớn hơn lợi ích thuần túy từ chênh lệch thuế”, TS. Hoàng Mạnh Cầm đánh giá.
Mặc dù chính sách thuế sau ngày 24/7 tạo ra bất lợi tương đối cho Việt Nam so với một số đối thủ có mức thuế thấp hơn, nhưng chưa làm thay đổi căn bản vị thế của dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng của Mỹ. Việt Nam vẫn là một trong những nguồn cung chủ lực, có nền tảng khá cân bằng về chi phí, khả năng đáp ứng linh hoạt và mức độ tích hợp chuỗi.
TS. Hoàng Mạnh Cầm lưu ý, khả năng duy trì lợi thế trong năm 2027 phụ thuộc vào việc DN có chuyển được năng lực sản xuất thành giá trị chiến lược đối với khách hàng hay không. Trong bối cảnh chính sách thuế mới được cho là sẽ thúc đẩy quá trình sàng lọc lại nguồn cung, thương hiệu, vừa phân tán rủi ro quốc gia, vừa thu hẹp số nhà cung cấp để tập trung vào những đối tác linh hoạt, tuân thủ tốt và đủ sức cùng khách hàng quản trị chi phí.
Đặc biệt, trong năm 2027, sức ép cạnh tranh sẽ lớn hơn khi các thương hiệu vừa tái cân bằng nguồn cung giữa các quốc gia, vừa có xu hướng tập trung đơn hàng vào những nhà cung cấp có năng lực tốt hơn. Vì vậy, khả năng duy trì và mở rộng vị thế của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc tiếp tục nâng cao năng suất, tốc độ, tính linh hoạt, năng lực phát triển sản phẩm và khả năng truy xuất, tính tuân thủ.
“Bất lợi về thuế là yếu tố cần được quản trị, nhưng vị thế đã được xây dựng trong chuỗi cung ứng vẫn là nền tảng quan trọng, để dệt may Việt Nam tiếp tục cạnh tranh và khai thác cơ hội trong giai đoạn tới”, TS. Hoàng Mạnh Cầm nhận định.
Tuân thủ là lợi thế cạnh tranh
Cùng đánh giá tác động của mức thuế bổ sung 12,5% của Mỹ đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HanoiSME) cho rằng, điều đáng chú ý không nằm ở mức thuế 12,5%, quan trọng ở việc Mỹ đang gắn quyền tiếp cận thị trường, tăng khả năng cho DN chứng minh chuỗi cung ứng đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động, xuất xứ và minh bạch.
Bởi tính tuân thủ giờ đây không còn là thủ tục, đã trở thành năng lực cạnh tranh. Ngay cả khi Việt Nam đàm phán được mức thuế 10%, các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống lao động cưỡng bức, chống chuyển tải bất hợp pháp hay minh bạch chuỗi cung ứng vẫn không thay đổi. Điều đó cho thấy đây là sự tái định hình quan hệ thương mại, không phải một biện pháp nhất thời.
Trước bối cảnh này, GS.TS. Mạc Quốc Anh lưu ý các DN cần làm ngay ba việc. Thứ nhất, rà soát chính xác mức độ ảnh hưởng của từng mặt hàng, từng hợp đồng thay vì nhìn vào một con số thuế bình quân. Thứ hai, xây dựng hệ thống quản trị và dữ liệu để sẵn sàng chứng minh nguồn gốc, lao động và chuỗi cung ứng khi đối tác yêu cầu. Thứ ba, giảm phụ thuộc vào một thị trường, một khách hàng và tận dụng các FTA để đa dạng hóa đầu ra.
“Việt Nam đã có Nghị định 292/2026/NĐ-CP cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Đây là bước đi tích cực, nhưng điều quan trọng hơn là phải thực thi hiệu quả và chứng minh được với đối tác. Mức thuế có thể thay đổi qua đàm phán, nhưng "luật chơi" về chuỗi cung ứng minh bạch sẽ còn tồn tại lâu dài, DN nào coi tuân thủ là lợi thế cạnh tranh sẽ là những người có cơ hội đi xa hơn”, GS.TS. Mạc Quốc Anh lý giải.