Ngập úng đô thị, ô nhiễm nguồn nước: Ngành cấp, thoát nước cần giải bài toán khó
VOV.VN - Biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng đô thị và ô nhiễm nguồn nước đang đặt ra những yêu cầu mới đối với ngành cấp, thoát nước. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số nâng khả năng thích ứng được xác định giúp ngành nước nâng cao hiệu quả quản trị, bảo đảm an toàn.
Chuyển đổi số để nâng hiệu quả quản trị ngành nước
Ngành nước Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển với nhiều yêu cầu mới. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, nhu cầu sử dụng nước và yêu cầu về chất lượng cuộc sống ngày càng cao, trong khi hệ thống hạ tầng tại nhiều địa phương chưa đồng bộ, nguồn lực đầu tư còn hạn chế. Cùng với đó, biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn, mưa cực đoan, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước.
Phát biểu tại Tuần lễ ngành nước Việt Nam với chủ đề “Chuyển đổi số và tăng cường khả năng thích ứng của ngành nước trong kỷ nguyên mới”, TS. Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam cho rằng, những thách thức này đòi hỏi ngành nước không thể chỉ tập trung xử lý từng vấn đề phát sinh trước mắt, mà cần thay đổi tư duy quản trị, phương thức đầu tư và cách thức hợp tác.
Từ yêu cầu đó, theo TS. Điệp, đây không chỉ là chủ đề của một sự kiện chuyên ngành mà còn là lời mời gọi các cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia và các bên liên quan cùng hành động trước những thách thức đang đặt ra.
Chuyển đổi số trong ngành nước, theo ông, không đơn thuần là đầu tư thêm phần mềm hay thiết bị. Cốt lõi là sử dụng dữ liệu để quản trị hiệu quả hơn, dự báo sớm hơn, giảm thất thoát nước và tiêu hao năng lượng, kiểm soát chất lượng nước chặt chẽ hơn, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
“Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giải quyết được vấn đề của thực tiễn”, TS. Điệp nhấn mạnh.
Cùng với chuyển đổi số, khả năng thích ứng cần trở thành yêu cầu xuyên suốt trong quy hoạch, đầu tư và vận hành hệ thống cấp, thoát nước. Các địa phương và doanh nghiệp cần chủ động xây dựng phương án ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước, ngập lụt và các tình huống khẩn cấp, qua đó bảo đảm các dịch vụ thiết yếu được duy trì an toàn, liên tục.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Bùi Xuân Dũng cho hay, quá trình đô thị hóa, nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao cùng những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới công tác quy hoạch, đầu tư và quản lý vận hành.
Tăng khả năng thích ứng, đa dạng nguồn lực đầu tư
Theo Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng, ngành nước cần từng bước chuyển từ xử lý sự vụ sang quản trị rủi ro, từ đầu tư riêng lẻ sang phát triển hệ thống đồng bộ, có tính kết nối. Đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các ngành, các cấp và các địa phương.
Ông Dũng cho biết, ở góc độ quản lý nhà nước, Bộ Xây dựng đang tập trung nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về cấp, thoát nước. Ngày 22/6/2026, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 971/QĐ-BXD về Kế hoạch xây dựng Luật Cấp, thoát nước. Bộ cũng tổ chức lấy ý kiến các cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia và nhà khoa học để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ chính sách, dự án Luật theo quy định.
Đối với chuyển đổi số, trong năm 2026, Bộ Xây dựng đã ban hành Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu Bộ Xây dựng và Từ điển dữ liệu dùng chung ngành xây dựng phiên bản 1.0. Đây được xem là cơ sở để từng bước chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu trong phạm vi quản lý của Bộ.
Trong lĩnh vực nước, việc số hóa cần gắn trực tiếp với các nhu cầu thực tế như quản trị tài sản, dự báo nhu cầu sử dụng nước, kiểm soát thất thoát, tối ưu hóa năng lượng, giám sát chất lượng nước, cảnh báo sự cố và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Tuy nhiên, đầu tư công nghệ cần đi cùng chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm khả năng kết nối giữa các hệ thống, an toàn thông tin và an ninh mạng. Đây là những điều kiện cần thiết để công nghệ thực sự hỗ trợ hoạt động quản lý cũng như sản xuất, kinh doanh của các đơn vị ngành nước.
Khả năng thích ứng cũng cần được tính đến ngay từ khâu quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, thiết kế, xây dựng cho tới quản lý vận hành. Với cấp nước, cần chú trọng an toàn nguồn nước, tính dự phòng và khả năng kết nối, hỗ trợ giữa các hệ thống. Với thoát nước, cần tiếp cận theo lưu vực, gắn với cao độ nền, hệ thống thủy lợi, sông hồ và không gian trữ, điều hòa nước mưa, phù hợp điều kiện từng đô thị, từng địa phương.
Để hiện thực hóa những yêu cầu này, nguồn lực đầu tư tiếp tục là vấn đề then chốt. Bên cạnh nguồn lực nhà nước, cần hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò khu vực tư nhân, hợp tác công - tư, tài chính xanh và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Việc huy động nguồn lực cần đi đôi với công khai, minh bạch, phân bổ rủi ro hợp lý, bảo đảm chất lượng dịch vụ và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Đây cũng là nền tảng để ngành nước nâng cao năng lực thích ứng, tăng hiệu quả vận hành và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đô thị, kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.