Nghị quyết 57: Giải pháp cho các công trình khoa học đang "nằm im" trên giấy
VOV.VN - Mục đích của việc nghiên cứu, phát minh, sáng chế khoa học công nghệ (KHCN) là tạo ra những giá trị khoa học trong thực tiễn và giá trị gia tăng về kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và xã hội. Tuy nhiên, quá trình này tại Việt Nam đang còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ...
Từ phòng thí nghiệm đến thị trường còn xa
Hiện tỷ lệ thương mại hóa tài sản trí tuệ tại Việt Nam còn thấp, trung bình toàn cầu có khoảng 5% văn bằng sáng chế được thương mại hóa; ở các nước phát triển có thể lên đến 10%, trong khi tại Việt Nam chỉ đạt 0,1%, tức là bằng 1/50 mức trung bình thế giới.
TS Nguyễn Hữu Cẩn, Quyền Viện trưởng Viện Sở hữu trí tuệ Quốc gia, (Bộ Khoa học và Công nghệ ) cho biết, theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam đứng thứ 50/139 quốc gia, nền kinh tế về chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo; đứng thứ 37/139 quốc gia, nền kinh tế về chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo nhưng lại chỉ xếp hạng thứ 112 về thu nhập từ tài sản trí tuệ, điều này phản ánh khoảng trống lớn trong việc thương mại hóa các sản phẩm KHCN.
Năm 2025, Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận trên 165.000 đơn xác lập quyền sở hữu trí tuệ, tăng 8,3% so với năm trước; số văn bằng bảo hộ được cấp tăng trên 55%. Riêng sáng chế, người Việt Nam nộp 2.288 đơn và được cấp 1.108 bằng, tăng 134,2% so với năm trước. Từ 01/4/2026, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực đã rút ngắn đáng kể thời gian xử lý đơn, thẩm định sáng chế còn 12 tháng, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp còn 5 tháng; thời gian công bố đơn còn 1 tháng; bổ sung cơ chế thẩm định nhanh trong 3 tháng đối với một số trường hợp. Tuy nhiên, nhiều tài sản trí tuệ của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc xác lập quyền, nhiều kết quả nghiên cứu, sáng chế vẫn chưa được thương mại hóa - chuyển hóa thành giá trị kinh tế tương xứng cũng như chưa được khai thác hiệu quả để trở thành nguồn lực phát triển phục vụ cho nhu cầu xã hội.
Theo TS Nguyễn Văn Cảnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu công nghệ và sản xuất thông minh, Trường Cơ khí – Ô tô, Đại học Công nghiệp Hà Nội, việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, phát minh, sáng chế KHCN còn nhiều bất cập cần tháo gỡ.
“Khoảng cách giữa các viện nghiên cứu và thị trường trong đổi mới sáng tạo còn khá xa, dẫn đến nhiều kết quả nghiên cứu, phát minh, sáng chế KHCN chưa xuất phát từ nhu cầu thị trường. Cơ chế sở hữu, định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước còn vướng mắc, khiến nhà khoa học thiếu động lực và thẩm quyền để tự thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình. Chúng ta đang thiếu những tổ chức trung gian đủ mạnh để kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, nhà đầu tư và thị trường, dẫn đến nhiều sáng chế có giá trị vẫn nằm trên giấy hoặc chỉ dừng ở quy mô thử nghiệm”, TS Cảnh phân tích.
Cần chính sách tạo động lực
Hiện nay, vẫn còn không ít các kết quả nghiên cứu, phát minh, sáng chế KHCN dù đã được cấp bằng nhưng chưa hình thành được giao dịch chuyển giao, góp vốn hoặc khai thác thương mại, theo ông Phùng Minh Hải, Hội Sáng chế Việt Nam, nguyên nhân chính không phải do chất lượng của kết quả nghiên cứu, sáng chế thiếu tính thực tiễn mà là do cơ chế ghi nhận tài sản trong chuẩn mực kế toán, ghi nhận kế toán; cơ chế định giá tài sản trí tuệ và cơ chế tài chính phục vụ thương mại hóa chưa liên thông với nhau. Nếu không có cơ chế liên thông phù hợp, sáng chế rất dễ dừng lại ở phạm vi bảo hộ trên giấy tờ mà chưa thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế - xã hội thực chất.
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.
Việt Nam muốn tiến những bước dài trên hành trình phát triển KHCN, để làm được điểu này cần có hệ thống thể chế đồng bộ - tức là tạo ra “luật chơi, sân chơi” để “người chơi” là nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư... cùng tham gia vào thị trường KHCN.
Theo TS Nguyễn Hữu Xuyên, Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ (Học viện Chiến lược khoa học và công nghệ), thương mại hóa các nghiên cứu, phát minh, sáng chế KHCN... cần được nhìn nhận là một chuỗi giá trị xuyên suốt (bao gồm: Nghiên cứu, phát triển công nghệ và ứng dụng thương mại) chứ không phải là khâu cuối cùng, vì vậy cần có chính sách tạo động lực cho quá trình này, để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường và tạo ra giá trị cho nền kinh tế.
“Chính sách cần chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản trị theo đầu ra, gắn với ứng dụng và thương mại hóa. Đổi mới cơ chế sở hữu kết quả nghiên cứu theo hướng linh hoạt, rõ ràng hơn về quyền khai thác trong toàn bộ vòng đời của kết quả nghiên cứu, phát minh.... Khi quyền lợi được bảo đảm, các tổ chức và nhà khoa học sẽ có động lực để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường và khơi dậy được khát vọng cống hiến của họ. Hiện việc xác định giá trị của kết quả nghiên cứu theo chi phí đã không còn phù hợp, cần tiếp cận theo giá trị gia tăng và dòng tiền thu nhập để đo lường chính xác hiệu quả kinh tế thực tế. Đây là yếu tố then chốt giúp thúc đẩy giao dịch trên thị trường KHCN. Cuối cùng là thúc đẩy sự kết nối giữa viện, trường và doanh nghiệp, việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thương mại hóa”, ông Xuyên nói.
Còn theo TS Nguyễn Văn Cảnh, để đẩy mạnh thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, cần giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu cho tổ chức chủ trì hoặc nhóm tác giả, định giá tài sản trí tuệ theo cơ chế thị trường, cho phép góp vốn bằng sáng chế để thành lập doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp được thành lập mới từ viện nghiên cứu, trường nhằm kết nối tri thức với thị trường, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ, sản phẩm hoặc ý tưởng nghiên cứu...).
“Áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, đơn giản hóa thủ tục thanh, quyết toán, nhất là với vật tư, linh kiện, thiết bị có giá biến động nhanh, để giảm gánh nặng chứng từ, giấy tờ cho chủ nhiệm đề tài. Chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, nếu chủ nhiệm đề tài đã tuân thủ đúng quy trình mà kết quả không ra sản phẩm như đăng ký ban đầu, kể cả khi kết luận là hướng nghiên cứu không khả thi vẫn cần được công nhận là một kết quả hợp lệ, không quy trách nhiệm. Có như vậy các nhóm nghiên cứu mới dám theo đuổi những hướng nghiên cứu đột phá, thay vì chỉ chọn đề tài chắc chắn thành công. Có chính sách thí điểm cơ chế sandbox có kiểm soát để thử nghiệm công nghệ, sản phẩm mới trước khi áp dụng đại trà. Xây dựng sàn giao dịch công nghệ quốc gia và cơ sở dữ liệu về sáng chế để doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, kết nối”, TS nêu Cảnh quan điểm.