Sản xuất công nghiệp khởi sắc, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng
VOV.VN - Bằng việc hoàn thiện thể chế, cải cách chính sách và tháo gỡ các điểm nghẽn, quá trình công nghiệp hóa sẽ trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế bứt phá trong giai đoạn mới.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 7 tháng năm 2026 tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, kết quả này được kỳ vọng sẽ duy trì vai trò động lực tăng trưởng trên 10% cho cả năm. Tuy nhiên, xác định công nghiệp hóa lấy công nghiệp chế biến, chế tạo làm trọng tâm cho mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới đạt khoảng 28% GDP, vẫn đang là một thách thức rất lớn.
Công nghiệp hướng đến chiều sâu
Thực tế công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm nghẽn chưa được khắc phục, như phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền sản xuất nội địa còn rất nhiều hạn chế. Do vậy, ông Trần Việt Hòa, Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho rằng, với yêu cầu tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, việc sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 2 con số không chỉ góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung, còn cho thấy hiệu quả từ định hướng phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, có chọn lọc và bền vững.
Muốn vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo và giảm tỷ trọng gia công, lắp ráp đối với các sản phẩm công nghiệp. Đây cũng là cơ sở để sản xuất công nghiệp tiếp tục mở rộng dư địa tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
“Bộ Công Thương từng bước tháo gỡ khó khăn cho các DN để tăng khả năng cạnh tranh, xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm nhập khẩu nhằm hỗ trợ sản phẩm trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa. Đồng thời, Bộ xem xét nghiên cứu và ban hành các ưu đãi, hỗ trợ cho việc sản xuất các vật liệu cơ bản như thép chế tạo; nguyên phụ liệu, vải và da thuộc cho các ngành dệt may và da giày; các sản phẩm từ hóa dầu như hạt nhựa, khuôn nhựa, cao su nhân tạo, sợi nhân tạo... để bảo đảm đầu vào cho các ngành công nghiệp hỗ trợ cũng như các ngành công nghiệp hạ nguồn”, ông Hòa nêu định hướng.
Thời gian qua, Bộ Công Thương đã được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm, bao gồm các ngành công nghiệp có tính chất nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên. Nguồn lực xã hội cần tập trung vào việc xây dựng và nâng cao năng lực, năng suất cho các DN công nghiệp trong nước, hình thành và phát triển các DN công nghiệp mạnh, các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị có đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Đánh giá Luật Công nghiệp trọng điểm khi được thông qua sẽ tạo cơ sở, nền tảng pháp lý thống nhất, để Chính phủ có thể linh hoạt ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, quy định chi tiết các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp, TS. Trịnh Thị Thanh Thuỷ, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương nhìn nhận, cần thiết phải có Luật Công nghiệp trọng điểm với các chính sách để định hướng liên kết DN FDI với DN trong nước, tạo ra mạng lưới liên kết vùng, các cụm, chuỗi công nghiệp.
“Luật Công nghiệp trọng điểm đẩy mạnh tái cơ cấu chuỗi công nghiệp và chuỗi cung ứng, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng lực tự chủ sản xuất trong nước, góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới. Cùng đó, Luật đẩy nhanh triển khai các dự án công nghiệp quy mô lớn, xây dựng các chuỗi liên kết giữa DN nội địa và DN FDI, thúc đẩy các DN Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến lược của các nước. Đây sẽ là bước tạo đà để tiếp tục thúc đẩy hoạt động sản xuất công nghiệp, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số”, TS. Trịnh Thị Thanh Thuỷ nói.
Gắn với năng lực sản xuất quốc gia
Trọng tâm của tăng trưởng trong giai đoạn mới là nâng cao năng suất, tăng giá trị gia tăng nội địa và củng cố năng lực sản xuất quốc gia. Trong bối cảnh đó, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) cần được xem là một trọng tâm của chính sách tăng trưởng, không chỉ là một bộ phận phụ trợ của công nghiệp chế biến, chế tạo. Bởi CNHT với những kết quả đạt được thời gian trước đây vẫn chưa tương xứng với yêu cầu của mục tiêu tăng trưởng hai con số. Khoảng cách giữa mục tiêu nội địa hóa và kết quả thực tế còn lớn; DN nhỏ vẫn thiếu vốn, công nghệ và tiêu chuẩn; liên kết FDI với DN nội địa chưa đủ sâu; dữ liệu theo dõi kết quả sau hỗ trợ còn thiếu.
Theo bà Trần Thị Vân Anh, Phó trưởng phòng, Phòng Thể chế kinh tế (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới), phát triển CNHT sẽ giúp tăng nội địa hóa, tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, nâng cao năng suất DN và tạo nền tảng cho các ngành chiến lược như điện tử, ô tô điện, thiết bị năng lượng, cơ khí chính xác và công nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt, Nghị định 205/2025/NĐ-CP và Quyết định 929/QĐ-TTg đang mở ra giai đoạn mới, đặt CNHT trong quan hệ trực tiếp với tăng trưởng 2 con số, tự chủ công nghiệp, chuyển đổi số và phát triển nhà cung ứng đạt chuẩn.
Chính vì thế, điểm nghẽn của CNHT hiện nay không còn là thiếu chính sách, chỉ là chính sách chưa đủ chọn lọc dựa trên dữ liệu cũng như chưa đủ gắn với kết quả vi mô. Vì vậy, hoàn thiện chính sách CNHT trong giai đoạn tới cần được đặt trong tầm nhìn nâng cấp năng lực sản xuất quốc gia.
“Khi gắn với năng lực sản xuất quốc gia, CNHT phát triển sẽ không chỉ giúp tăng tỷ lệ nội địa hóa, còn tạo nền tảng cho tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới công nghệ, năng lực DN Việt Nam và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đó là điều kiện cần để mục tiêu tăng trưởng hai con số trở thành một quỹ đạo phát triển có chất lượng”, bà Vân Anh nêu quan điểm.