7 thực phẩm giàu i-ốt giúp tuyến giáp khỏe mạnh
VOV.VN - I-ốt là vi chất thiết yếu, đặc biệt quan trọng với hoạt động của tuyến giáp và được cung cấp chủ yếu qua thực phẩm, trong đó có muối i-ốt. Bổ sung i-ốt đúng mức từ chế độ ăn giúp duy trì sức khỏe và các chức năng bình thường của cơ thể.
Tại sao i-ốt quan trọng cho sức khỏe?
I-ốt giúp tuyến giáp sản xuất hormone T4 và T3, từ đó điều hòa trao đổi chất và sử dụng năng lượng của cơ thể. Thiếu i-ốt kéo dài có thể làm suy giảm chức năng tuyến giáp, tăng nguy cơ bướu cổ và ảnh hưởng đến phát triển thể chất, trí não. Đặc biệt, i-ốt rất cần thiết cho sự phát triển não bộ của thai nhi, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nên cần bảo đảm bổ sung đủ qua chế độ ăn.
Các thực phẩm giàu iốt tự nhiên
I-ốt là nguyên liệu để tuyến giáp sản xuất hormone T4 và T3, giúp điều hòa trao đổi chất, sử dụng năng lượng và nhiều hoạt động của cơ thể. Thiếu i-ốt kéo dài có thể khiến tuyến giáp hoạt động kém, tăng nguy cơ bướu cổ, đồng thời ảnh hưởng đến phát triển thể chất và trí não. Đặc biệt, thai nhi, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần đủ i-ốt để hỗ trợ phát triển não bộ và hệ thần kinh.
Các sản phẩm chứa i-ốt thông qua chế phẩm
Ngoài thực phẩm tự nhiên, i-ốt còn được bổ sung vào một số sản phẩm như muối i-ốt và thực phẩm chế biến. Muối i-ốt là nguồn bổ sung phổ biến giúp phòng thiếu i-ốt nhưng vẫn cần sử dụng trong giới hạn khuyến nghị. Một số sản phẩm như bánh mì, bánh quy, mì ăn liền có thể dùng muối iốt trong sản xuất, song hàm lượng i-ốt không đồng nhất.
Những lưu ý khi bổ sung thực phẩm giàu i-ốt
Cơ thể cần i-ốt ở mức phù hợp, bởi cả thiếu và thừa iốt đều có thể ảnh hưởng sức khỏe. Nên ưu tiên các nguồn thực phẩm như cá, hải sản, rong biển, trứng, sữa và sử dụng muối i-ốt hợp lý, đồng thời kiểm tra nhãn vì muối biển không đồng nghĩa với muối có i-ốt. Không nên tự ý dùng viên bổ sung iốt, nhất là người mắc bệnh tuyến giáp, do dư thừa iốt cũng có thể gây rối loạn chức năng tuyến giáp. Nhu cầu i-ốt thay đổi theo tuổi và giai đoạn: trẻ 0-6 tháng cần khoảng 40 mcg/ngày, 6-12 tháng 50 mcg, 1-3 tuổi 70 mcg, 4-9 tuổi 120 mcg, 10-12 tuổi 140 mcg, từ 14 tuổi và người trưởng thành 150 mcg; phụ nữ mang thai, cho con bú cần cao hơn khoảng 50 mcg/ngày.