Được - mất khi ông Trump chọn “xoay trục” với Hàn Quốc
VOV.VN - Việc Tổng thống Donald Trump giảm các cuộc tập trận quân sự với Hàn Quốc để dồn nguồn lực cho cuộc xung đột với Iran và bài toán eo biển Hormuz, cho thấy Washington ngày càng phải đối mặt với bài toán chiến lược khó khăn.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đang phải chứng kiến thực tế khắc nghiệt: nước Mỹ đứng đầu thế giới về quân sự nhưng nguồn lực không phải là vô hạn. Còn các cam kết an ninh của Mỹ lại trải rộng trên quá nhiều mặt trận. Quyết định tưởng như mang tính chiến thuật của người đứng đầu nước Mỹ là giải pháp tình thế nhưng có thể tạo ra những vấn đề lâu dài đối với nền tảng an ninh - quốc phòng mà Mỹ đã gây dựng hàng thập kỷ ở khu vực Đông Bắc Á.
Iran và Hormuz là ưu tiên số một
Trong tuyên bố trên mạng xã hội Truth Social, Tổng thống Donald Trump cho biết Mỹ sẽ giảm các cuộc tập trận quân sự chung với Hàn Quốc. Ông đồng thời viện dẫn hai lý do: quan hệ “rất tốt” với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un và chi phí mà Mỹ phải bỏ ra cho các cuộc tập trận.
Đáng chú ý, ông Trump còn liên hệ quyết định này với cuộc chiến tại Iran. Tổng thống Mỹ cho biết ông từng đề nghị Tổng thống Hàn Quốc tham gia nỗ lực “phi hạt nhân hóa” Iran, nhưng Seoul đã từ chối.
Sự liên hệ này đặc biệt đáng chú ý. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, việc giảm quy mô tập trận Mỹ-Hàn chủ yếu gắn với chiến lược ngoại giao nhằm tạo điều kiện cho đối thoại Mỹ - Triều. Còn lần này, quyết định được đưa ra trong một bối cảnh hoàn toàn khác: Mỹ đang phải tập trung nguồn lực quân sự và chính trị rất lớn cho Trung Đông, trong đó vấn đề Iran và eo biển Hormuz đã trở thành một ưu tiên cấp bách.
Hormuz là một trong những điểm nghẽn hàng hải chiến lược quan trọng nhất thế giới. Việc bảo đảm an ninh hàng hải, duy trì khả năng lưu thông hàng hải tự do, bảo vệ lực lượng Mỹ và các đồng minh tại Trung Đông; đồng thời duy trì sức ép quân sự lên Iran đòi hỏi Washington phải dành một lượng lớn vật chất và nhân lực cho khu vực.
Trong hoàn cảnh đó, việc giảm bớt một số hoạt động quân sự tại Hàn Quốc có thể được xem là một phần của quá trình tái phân bổ nguồn lực. Nói cách khác, dù miễn cưỡng, Washington đang phải lựa chọn nơi cần tập trung sức mạnh trước mắt.
Đây không phải dấu hiệu cho thấy Mỹ đã “cạn kiệt” sức mạnh quân sự, nhưng là lời cảnh báo cường quốc số một thế giới phải đối mặt sức ép ngày càng lớn trong việc duy trì đồng thời nhiều cam kết an ninh ở những mặt trận cách xa nhau.
“Cuộc chiến tiêu hao” ngoài dự báo
Từ châu Âu đến Trung Đông và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Mỹ đang phải xử lý nhiều bài toán chiến lược cùng lúc. Washington phải duy trì năng lực răn đe Nga và hỗ trợ các đồng minh châu Âu trong cuộc xung đột Ukraine; cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc ở Đông Á; bảo đảm an ninh cho Nhật Bản và Hàn Quốc trước mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên; đồng thời trực tiếp tiến hành các hoạt động quân sự quy mô lớn tại Trung Đông.
Mỗi một mặt trận đều đòi hỏi những nguồn lực mà không thể nhanh chóng bổ sung. Đó có thể là lý do khiến chính quyền Trump ngày càng nhấn mạnh yêu cầu các đồng minh phải chia sẻ gánh nặng an ninh.
Trong trường hợp Hàn Quốc, Washington không chỉ muốn Seoul đóng góp nhiều hơn cho an ninh trên bán đảo Triều Tiên, mà còn kỳ vọng một đồng minh giàu mạnh như Hàn Quốc có thể tham gia vào những vấn đề an ninh rộng hơn. Nhưng chính tại đây xuất hiện một nghịch lý.
Hàn Quốc có thể là một cường quốc quân sự, nhưng ưu tiên an ninh số một của nước này vẫn là Triều Tiên. Đối với Seoul, việc Mỹ yêu cầu hỗ trợ chiến dịch ở Iran không thể quan trọng hơn mối đe dọa hạt nhân nằm ngay bên kia được giới tuyến.
Vì vậy, việc Tổng thống Trump gắn vấn đề Iran với quan hệ quân sự Mỹ - Hàn đặt ra câu hỏi mà Seoul còn nhiều băn khoăn. Liệu Washington đang nhìn liên minh Mỹ - Hàn như một cam kết an ninh lâu dài, hay giống như một giao dịch mà mức độ bảo đảm phụ thuộc vào việc đồng minh có đáp ứng những ưu tiên trước mắt của Mỹ hay không?
Triều Tiên đang mạnh hơn trước?
Điều khiến quyết định giảm tập trận trở nên nhạy cảm là nó diễn ra trong thời điểm năng lực quân sự của Triều Tiên có những thay đổi đáng kể.
Bình Nhưỡng sở hữu năng lực tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có khả năng đe dọa lãnh thổ Mỹ, đồng thời tiếp tục phát triển chương trình hạt nhân và các phương tiện mang vũ khí hạt nhân. Triều Tiên cũng đang tăng cường quan hệ quân sự với bên ngoài; qua đó tiếp cận kinh nghiệm chiến trường và những công nghệ quân sự mới.
Trong bối cảnh đó, việc duy trì khả năng phối hợp tác chiến Mỹ-Hàn không chỉ mang ý nghĩa huấn luyện. Đó là một phần của cơ chế răn đe tại bán đảo Triều Tiên.
Các cuộc tập trận giúp hai quân đội kiểm nghiệm khả năng phối hợp chỉ huy, thông tin liên lạc, tác chiến trên không, phòng thủ tên lửa, chống máy bay không người lái và nhiều tình huống chiến tranh khác.
Vì vậy, giảm số lượng hoặc quy mô tập trận không đồng nghĩa ngay lập tức với việc Mỹ mất khả năng răn đe Triều Tiên, nhưng nếu trở thành một xu hướng lâu dài, nó có thể làm suy giảm mức độ sẵn sàng và khả năng phối hợp tác chiến của liên minh. Đó là khoảng trống mà Bình Nhưỡng có thể tìm cách khai thác.
Tình thế đặt Hàn Quốc trước lựa chọn mới
Tuy nhiên, một khía cạnh khác cũng đáng được bàn tới. Hàn Quốc hiện tại không phải Hàn Quốc của vài thập kỷ trước. Seoul đã xây dựng một trong những lực lượng vũ trang hiện đại và có năng lực tác chiến cao nhất châu Á. Công nghiệp quốc phòng của nước này cũng đã vươn lên thế tự chủ. Hàn Quốc đã sở hữu máy bay chiến đấu F-35, tên lửa đạn đạo Hyunmoo, hệ thống phòng thủ tên lửa nhiều tầng và một hệ thống chỉ huy – kiểm soát ngày càng hiện đại.
Đáng chú ý là “Hệ thống phòng thủ ba trục” của Hàn Quốc gồm năng lực tấn công phủ đầu Kill Chain, hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa Hàn Quốc (KAMD), cùng học thuyết đáp trả và trừng phạt quy mô lớn (KMPR).
Điều này có nghĩa là Seoul không hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ để bảo vệ lãnh thổ. Nếu Washington thực sự giảm hiện diện, Hàn Quốc có khả năng tăng tốc quá trình tự chủ quốc phòng.Nhưng chính điều này lại dẫn tới một hệ quả chiến lược khác; chính xác hơn là rủi ro của “tự chủ quốc phòng”.
Một Hàn Quốc mạnh hơn về quân sự có thể giúp Mỹ giảm gánh nặng tại Đông Bắc Á. Nhưng nếu Seoul ngày càng nghi ngờ độ tin cậy của “chiếc ô hạt nhân” Mỹ, ý tưởng tại nước này về khả năng tự phát triển năng lực răn đe chiến lược, kể cả vũ khí hạt nhân, có thể trở nên mạnh mẽ hơn. Đây là kịch bản Washington không mong muốn.
Qua hàng thập kỷ, mục tiêu của Mỹ tại Đông Bắc Á không chỉ là ngăn Triều Tiên tấn công Hàn Quốc. Washington còn muốn duy trì một cấu trúc an ninh trong đó các đồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc dựa vào sự bảo hộ về an ninh Mỹ; qua đó hạn chế nguy cơ chạy đua hạt nhân trong khu vực.
Nếu Seoul đi đến kết luận rằng cam kết của Mỹ không còn đủ chắc chắn, logic có thể bị đảo ngược. Đó là việc đồng minh càng tự chủ, họ càng có thể đặt câu hỏi về sự cần thiết của một mức độ phụ thuộc cao vào Mỹ. Và một khi câu hỏi về năng lực hạt nhân xuất hiện, cấu trúc an ninh Đông Bắc Á sẽ bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới.
Mất nhiều hơn được
Hệ quả của quyết định này cũng không chỉ giới hạn ở những diễn biến tình hình sắp tới tại bán đảo Triều Tiên.
Nước láng giềng Nhật Bản sẽ theo dõi rất sát cách Mỹ điều chỉnh sự hiện diện quân sự tại Hàn Quốc. Các đồng minh khác của Washington tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng có thể đặt câu hỏi về mức độ bền vững của cam kết an ninh Mỹ.
Nếu Mỹ phải điều chuyển lực lượng từ Đông Bắc Á sang Trung Đông mỗi khi một cuộc khủng hoảng lớn xuất hiện, các nước đồng minh sẽ phải tính đến khả năng tự đảm bảo an ninh nhiều hơn.
Điều này có thể thúc đẩy quá trình hình thành một cấu trúc an ninh khu vực trong đó Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ gia tăng mạnh năng lực quân sự độc lập. Nhưng một cấu trúc như vậy cũng tiềm ẩn nguy cơ chạy đua vũ trang tại khu vực.
Trung Quốc chắc chắn cũng sẽ quan sát kỹ lưỡng sự thay đổi này. Nếu Bắc Kinh nhận thấy Mỹ bị phân tán nguồn lực bởi Iran và Trung Đông, họ có thể đánh giá lại mức độ tự do hành động của mình tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Rõ ràng, việc nước Mỹ giảm sự tương tác quân sự với đồng minh Hàn Quốc sẽ có tác động hai mặt. Trong ngắn hạn, đây có thể là một quyết định thực dụng, đáp ứng nhu cầu cấp bách về nguồn lực tại Trung Đông, bảo vệ lợi ích của Mỹ tại eo biển Hormuz. Nhưng về dài hạn, đây có thể là một canh bạc chiến lược.
Nếu Mỹ tiết kiệm được một phần nguồn lực ở Hàn Quốc nhưng đồng thời làm suy giảm lòng tin của Seoul, thúc đẩy Hàn Quốc tự chủ quốc phòng mạnh hơn, kích thích nhu cầu về vũ khí hạt nhân và tạo thêm không gian chiến lược cho Triều Tiên. Cái giá phải trả khi đó có thể lớn hơn nhiều khoản chi phí tiết kiệm được từ việc cắt bỏ các cam kết lâu dài. Đó chính là mất mát lớn nhất với nước Mỹ ở tương lai.