Kinh tế tăng tốc, chứng khoán tái định giá: Cơ hội đang thuộc về ai?
VOV.VN - Mục tiêu tăng trưởng GDP 9 - 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030 được kỳ vọng tạo động lực mới cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, trong bối cảnh dòng tiền ngày càng phân hóa, cơ hội được dự báo sẽ nghiêng về các doanh nghiệp có nền tảng tài chính vững và hưởng lợi từ các động lực tăng trưởng mới.
Tăng trưởng cao đi cùng áp lực ổn định vĩ mô
Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính – tiền tệ Quốc gia, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đổi mới mô hình tăng trưởng với trọng tâm là nâng cao chất lượng tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), thay vì chỉ tập trung vào tốc độ tăng trưởng GDP như trước đây.
Điểm đáng chú ý là mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030 được đặt ở mức cao. Một số chỉ tiêu được nêu ra gồm tăng trưởng GDP bình quân từ 9 - 10%/năm, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 28 - 30% GDP, vốn đầu tư toàn xã hội tương đương 38 - 40% GDP, đóng góp của TFP vào tăng trưởng đạt 51 - 55% và tỷ trọng đầu tư xanh trong đầu tư toàn xã hội tăng lên 12 - 13%.
Trong ngắn hạn, nền kinh tế vẫn có nhiều điểm sáng. Trong kịch bản cơ sở, TS. Cấn Văn Lực dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 có thể đạt 9 - 9,2%; trong kịch bản tiêu cực, mức tăng còn khoảng 8 - 8,5%. Các động lực chính đến từ sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, tiêu dùng, FDI và đầu tư công.
Riêng kế hoạch giải ngân đầu tư công năm 2026 khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 31% so với kế hoạch năm 2025, trong khi giải ngân 4 tháng đầu năm đạt 187.100 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ. Điều này cho thấy dư địa hỗ trợ tăng trưởng từ đầu tư công vẫn còn rất lớn.
Tuy nhiên, điểm nhấn của bức tranh kinh tế năm 2026 không chỉ nằm ở mục tiêu tăng trưởng, mà còn ở khả năng giữ ổn định vĩ mô trong bối cảnh áp lực bên ngoài gia tăng. Kinh tế thế giới được dự báo giảm đà tăng trưởng trong giai đoạn 2026 - 2027; lạm phát toàn cầu có nguy cơ tăng trở lại, lãi suất giảm chậm, thương mại tăng chậm và rủi ro địa chính trị phức tạp hơn. Đây là những yếu tố có thể tác động tới xuất khẩu, FDI, tỷ giá, chi phí vốn và chi phí đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam.
Một rủi ro được nhấn mạnh là tác động từ chiến sự tại Iran/Trung Đông. Theo kịch bản cơ sở, giá dầu bình quân năm 2026 có thể ở mức 85 - 87 USD/thùng, cao hơn 23 - 25% so với bình quân năm 2025; lạm phát có thể tăng thêm 0,4 - 0,6 điểm phần trăm và tăng trưởng GDP có thể giảm 0,6 - 0,8 điểm phần trăm so với mục tiêu. Ở kịch bản tiêu cực hơn, tác động tới tăng trưởng, lạm phát, xuất khẩu và FDI sẽ lớn hơn đáng kể.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với điều hành chính sách là phải linh hoạt hơn. TS. Cấn Văn Lực cho rằng, trong giai đoạn tới, chính sách tài khóa cần giữ vai trò chủ lực, trong khi chính sách tiền tệ mang tính bổ trợ. Trọng tâm là kích cầu đầu tư và tiêu dùng, giữ mặt trận xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, bình ổn giá xăng dầu, bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời tiếp tục kiểm soát lạm phát, tỷ giá và mặt bằng lãi suất.
Thị trường chứng khoán bước vào giai đoạn tái định giá
Trong bối cảnh kinh tế duy trì triển vọng tăng trưởng tích cực nhưng môi trường bên ngoài còn nhiều biến động, diễn biến của thị trường chứng khoán cũng đang cho thấy sự thay đổi đáng kể về cấu trúc dòng tiền.
TS. Cấn Văn Lực cho rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái định giá dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế và cải cách thể chế.
“Việc đẩy mạnh nâng hạng thị trường, phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng, cùng quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính – chứng khoán được kỳ vọng sẽ tạo ra động lực mới cho dòng vốn trong và ngoài nước”, TS. Lực nhận định.
Nhiều nhóm ngành được đánh giá có tiềm năng hưởng lợi trong chu kỳ tăng trưởng mới như đầu tư công – hạ tầng, công nghệ, năng lượng, logistics, ngân hàng, dịch vụ tài chính và các doanh nghiệp gắn với xu hướng chuyển đổi xanh và AI. Tuy vậy, thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp biến động mạnh trước những yếu tố khó lường từ bên ngoài như chiến tranh thương mại, biến động giá dầu hay xu hướng lãi suất toàn cầu.
“Doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và ESG để nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới”, TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị.
Đối với nhà đầu tư, giai đoạn 2026 - 2027 được đánh giá là cơ hội lớn song hành cùng những biến động mạnh hơn của thị trường. Vị chuyên gia lưu ý, nhà đầu tư cần ưu tiên chiến lược đầu tư dài hạn, lựa chọn doanh nghiệp có nền tảng tài chính lành mạnh, hưởng lợi từ xu hướng tăng trưởng mới và có khả năng thích ứng tốt với môi trường kinh tế biến động.
Ở góc nhìn phân tích dữ liệu, bà Đỗ Hồng Vân, Trưởng phòng Phân tích Dữ liệu, Khối Dịch vụ Thông tin Tài chính, FiinGroup cho rằng, thị trường đang chuyển dần từ giai đoạn kỳ vọng sang giai đoạn tăng trưởng, nơi kết quả kinh doanh và chất lượng lợi nhuận trở thành yếu tố dẫn dắt chính.
Theo bà Vân, bức tranh lợi nhuận quý I/2026 tuy tích cực nhưng mang tính tập trung cao. Nếu loại bỏ tác động từ một số doanh nghiệp lớn như: VHM, BSR, HPG hay VPL, tăng trưởng lợi nhuận toàn thị trường chỉ còn khoảng 15,4%, thấp hơn đáng kể so với mức công bố 38,4%. Điều này cho thấy dòng tiền hiện chủ yếu tập trung ở một số nhóm ngành và doanh nghiệp đầu ngành.
Những lĩnh vực ghi nhận cải thiện mạnh về biên lợi nhuận gồm bất động sản dân cư, dầu khí, khai khoáng, thép, xây dựng và logistics. Ngược lại, nhiều ngành như: hóa chất, công nghệ thông tin hay phân phối xăng dầu đang chịu áp lực từ chi phí đầu vào tăng cao.
Đáng chú ý, chuyên gia FiinGroup cho rằng, nhóm vốn hóa lớn nhiều khả năng sẽ trở lại dẫn dắt thị trường nhờ động lực từ ngân hàng, thép và hệ sinh thái Vingroup, trong khi nhóm vốn hóa vừa và nhỏ sẽ đối mặt áp lực lớn hơn về lãi suất, chi phí vốn và sức cầu phục hồi chậm.
Ở góc nhìn thị trường, ông Nguyễn Minh Hoàng, Trưởng phòng Phân tích của Công ty Chứng khoán Nhất Việt (VFS) đánh giá, VN-Index đang phát đi nhiều tín hiệu của một sóng tăng mới. Sau nhịp điều chỉnh mạnh do tác động từ xung đột địa chính trị, chỉ số đã tạo đáy quanh vùng 1.590 điểm rồi nhanh chóng phục hồi khoảng 18%, với vai trò dẫn dắt thuộc về nhóm vốn hóa lớn, đặc biệt là bất động sản.
Theo ông Hoàng, định giá thị trường hiện vẫn ở vùng hấp dẫn nếu loại trừ ảnh hưởng của nhóm cổ phiếu họ Vin. Phần lớn ngành nghề đang giao dịch ở mức P/E thấp hơn trung bình 10 năm, trong khi hiệu suất dài hạn của VN-Index vẫn vượt đáng kể so với lãi suất huy động.
Đại diện VFS nhận định, sóng tăng hiện nay được hỗ trợ bởi hàng loạt động lực quan trọng như mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công quy mô khoảng 1 triệu tỷ đồng, cải cách thể chế và kỳ vọng nâng hạng thị trường vào tháng 9/2026 theo đánh giá của FTSE Russell.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh Hoàng cũng nhấn mạnh, thị trường hiện không còn bước vào chu kỳ tiền rẻ đại trà như trước đây. Dư địa nới lỏng tiền tệ đang thu hẹp khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao, lãi suất có xu hướng nhích lên và dư nợ tín dụng hiện vượt huy động.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, triển vọng tăng trưởng cao của Việt Nam vẫn mở ra dư địa lớn cho cả doanh nghiệp và thị trường tài chính. Tuy nhiên, giai đoạn 2026 - 2027 cũng được dự báo sẽ đi kèm sự phân hóa mạnh hơn, đòi hỏi doanh nghiệp và nhà đầu tư phải nâng cao năng lực thích ứng, quản trị rủi ro và tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.