Vụ lợn bệnh vẫn có giấy kiểm dịch: Đơn vị trung gian có phải chịu trách nhiệm?
VOV.VN - Vụ đường dây giết mổ, tiêu thụ lợn bệnh quy mô lớn ở Hà Nội gây chấn động dư luận, đặt dấu hỏi về hiệu quả kiểm soát ATTP. Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV), Luật sư Nguyễn Văn Tuấn giám đốc công ty luật GTS cho rằng, vấn đề không phải ở luật mà ở cách thực thi trong quản lý.
Phóng viên: Thưa Luật sư, dư luận đang hết sức bất bình trước vụ việc đường dây giết mổ, tiêu thụ lợn bệnh quy mô lớn tại Hà Nội bị triệt phá. Nhiều ý kiến cho rằng quy trình cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm (ATTP) và giấy kiểm dịch hiện nay đang quá dễ dàng, tạo kẽ hở cho thực phẩm bẩn hoành hành. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo Luật An toàn thực phẩm 2010 và Nghị định 46/2026/NĐ-CP, Giấy chứng nhận ATTP chỉ được cấp khi cơ sở đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, quy trình chế biến và phải trải qua thẩm định thực tế, kèm cơ chế hậu kiểm định kỳ.
Đối với hoạt động kiểm dịch động vật, động vật trước khi vận chuyển và giết mổ phải được kiểm tra tình trạng sức khỏe, nguồn gốc xuất xứ và tình hình dịch bệnh tại địa phương. Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ, cơ quan thú y có trách nhiệm lấy mẫu xét nghiệm trước khi cấp giấy chứng nhận kiểm dịch. Ngoài ra, tại cơ sở giết mổ, động vật tiếp tục phải trải qua khâu kiểm soát trước và sau giết mổ, bao gồm việc đóng dấu kiểm soát thú y đối với sản phẩm đủ điều kiện lưu thông.
Như vậy, pháp luật đã xây dựng hệ thống kiểm soát nhiều tầng, từ chăn nuôi đến tiêu thụ. Tuy nhiên, vụ việc lợn bệnh vẫn được cấp giấy kiểm dịch và giết mổ cho thấy vấn đề không nằm ở quy định mà ở việc suy giảm liêm chính trong thực thi. Cơ chế kiểm dịch hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào con người, đặc biệt ở khâu kiểm tra lâm sàng và xác nhận hồ sơ, khiến các hành vi hợp thức hóa hoặc làm sai lệch quy trình có thể xảy ra.
Phóng viên: Vậy có phải các loại giấy chứng nhận này đang bị biến tướng thành "bùa hộ mệnh" để các doanh nghiệp làm ăn bất chính che mắt cơ quan chức năng và người tiêu dùng không, thưa ông?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Có thể nói thẳng rằng, trong một số trường hợp, các loại giấy tờ này đang bị biến tướng thành “bùa hộ mệnh”. Nhưng cần hiểu rõ: bản thân giấy phép không phải nguyên nhân, mà là cách chúng bị lợi dụng.
Giấy chứng nhận ATTP chỉ xác nhận điều kiện tại thời điểm thẩm định, không phải bảo đảm tuyệt đối cho cả quá trình sau đó. Giấy kiểm dịch cũng chỉ có giá trị với đúng lô hàng và thời điểm đó. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã lợi dụng tâm lý “tin vào giấy tờ” để hợp thức hóa hàng kém chất lượng. Khi chuỗi cung ứng quá dài qua nhiều trung gian, việc kiểm tra thực chất bị “làm mờ” bởi các bộ hồ sơ hợp lệ trên giấy. Dưới góc độ pháp lý, giấy phép không tạo ra quyền miễn trừ. Doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nếu cung cấp thực phẩm bẩn, và cán bộ cấp sai giấy tờ có thể bị xử lý về tội giả mạo trong công tác hoặc lạm dụng chức vụ.
Phóng viên: Trong vụ việc này, thực phẩm bẩn đã vào đến bếp ăn trường học thông qua các đơn vị trung gian như Công ty suất ăn công nghiệp Hà Nội. Đơn vị này khẳng định họ cũng là “nạn nhân” vì đã có đủ giấy tờ từ nhà cung cấp. Theo Luật sư, đơn vị trung gian có phải chịu trách nhiệm liên đới?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo luật, đơn vị cung cấp suất ăn không chỉ chịu trách nhiệm về khâu chế biến mà còn phải kiểm soát nguồn gốc, chất lượng nguyên liệu đầu vào. Thực phẩm do họ cung cấp phải an toàn, truy xuất được nguồn gốc và phù hợp quy chuẩn, không phụ thuộc việc họ có trực tiếp sản xuất hay chỉ là khâu trung gian.
Do đó, việc doanh nghiệp dựa vào giấy kiểm dịch hay giấy chứng nhận ATTP từ nhà cung cấp không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm. Các giấy tờ chỉ có giá trị tham khảo, không thay thế nghĩa vụ thẩm định, giám sát thực chất. Nếu đơn vị trung gian buông lỏng kiểm soát, không đánh giá năng lực nhà cung cấp hay kiểm tra thực tế, họ vẫn bị coi là có lỗi khi hậu quả xảy ra.
Mức độ trách nhiệm phụ thuộc vào yếu tố lỗi. Nếu doanh nghiệp chứng minh đã thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra theo quy định, họ có thể được xem là bên bị thiệt hại, không chịu trách nhiệm. Ngược lại, nếu có căn cứ cho thấy họ biết rủi ro nhưng vẫn ký kết, tiếp nhận và sử dụng nguyên liệu không đảm bảo, hoặc không tuân thủ kiểm soát nội bộ, họ hoàn toàn có thể bị xử lý theo pháp luật.
Phóng viên: Vụ thịt lợn bẩn, nhiều doanh nghiệp và cán bộ bị khởi tố, ông nhìn nhận những lỗ hổng lớn nhất hiện nay là gì?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo luật, giấy chứng nhận chỉ xác nhận cơ sở đạt điều kiện tại thời điểm thẩm định. Lỗ hổng lớn là cơ chế hậu kiểm chưa đủ sâu và thường xuyên, nhiều cơ sở sau khi cấp phép vẫn dùng giấy như “bảo chứng” dù không duy trì tiêu chuẩn.
Quy trình cấp phép và kiểm dịch phụ thuộc nhiều vào con người. Kiểm dịch gồm kiểm tra lâm sàng, đánh giá hồ sơ và xét nghiệm khi cần. Theo Luật Thú y 2015, việc kiểm dịch động vật bao gồm kiểm tra lâm sàng, đánh giá hồ sơ và trong một số trường hợp mới tiến hành xét nghiệm. Khi quyền đánh giá chủ yếu nằm ở cán bộ thực thi, nếu cán bộ thực thi thiếu trách nhiệm hoặc móc nối, toàn bộ kiểm soát có thể bị vô hiệu hóa.
Truy xuất nguồn gốc chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy qua nhiều tầng trung gian, khiến kiểm soát thực chất gần như không hiệu quả. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý chưa đồng bộ, dữ liệu chưa liên thông, chế tài chưa đủ sức răn đe.
Có thể thấy sự lệch pha giữa tiền kiểm và hậu kiểm, phụ thuộc quá nhiều vào con người, thiếu minh bạch và liên thông trong truy xuất nguồn gốc chính là những điểm nếu không khắc phục, giấy phép dù thiết kế chặt chẽ vẫn có thể bị biến thành công cụ hợp thức hóa vi phạm.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!