Văn hóa chỉ thực sự sống khi được đặt trong dòng chảy của thị trường và sáng tạo
VOV.VN - ĐBQH cho rằng, văn hóa không phải là món quà của quá khứ cần được "bao cấp" để tồn tại, mà là nguồn lực nội sinh sống động. Chỉ khi đặt trong dòng chảy sáng tạo và sự vận hành của thị trường, các giá trị truyền thống mới thực sự thoát khỏi "tủ kính" để trở thành đòn bẩy kinh tế và niềm tự hào của quốc gia.
Chỉ dừng ở bảo tồn, văn hóa sẽ mãi là di sản có giá trị nhưng không được khai thác
Phát biểu tại nghị trường, đại biểu Trần Thị Vân ( đoàn Bắc Ninh) nhấn mạnh, văn hóa chỉ thực sự “sống” khi được đặt trong dòng chảy của thị trường và sáng tạo, thay vì chỉ dừng lại ở bảo tồn.
Theo đại biểu, thực tiễn thời gian qua đã cho thấy tiềm năng lớn của việc khai thác chất liệu văn hóa truyền thống trong các sản phẩm hiện đại. Dẫn chứng cụ thể, đại biểu nêu xu hướng này còn thể hiện rõ trong các sản phẩm âm nhạc đương đại như Bắc Bling của Hòa Minzy, khi các yếu tố văn hóa vùng Kinh Bắc được làm mới bằng ngôn ngữ hiện đại, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trên nền tảng số và thu hút giới trẻ.
Bên cạnh đó, bộ phim Đào, phở và piano – một tác phẩm chiến tranh khai thác sâu yếu tố lịch sử, văn hóa và cách mạng; hay MV Bo xì bo là sản phẩm đại chúng được phát triển từ chất liệu văn hóa truyền thống.
Đáng chú ý, lĩnh vực nội dung số cũng ghi nhận bước tiến vượt bậc với loạt phim hoạt hình Wolfoo do đội ngũ Việt Nam sản xuất, đạt khoảng 3 tỷ lượt xem mỗi tháng trên toàn cầu, thu hút 50 triệu người theo dõi đa nền tảng và được phát hành bằng 17 ngôn ngữ. Ngành game Việt Nam cũng đang vươn lên dẫn đầu khu vực, bước đầu tích hợp yếu tố văn hóa dân tộc vào sản phẩm, mang lại doanh thu từ người dùng quốc tế lên tới hàng trăm triệu USD mỗi năm...
“Điều này cho thấy văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu sáng tạo hấp dẫn trong thời đại số, vừa góp phần bảo tồn linh hoạt, vừa tạo ra giá trị kinh tế”, đại biểu nhấn mạnh, đồng thời cảnh báo nếu chỉ dừng ở bảo tồn, văn hóa sẽ mãi là di sản “có giá trị nhưng không được khai thác"
Ở chiều ngược lại, dù công nghiệp văn hóa đã được xác định là động lực tăng trưởng mới, song các chính sách trong dự thảo hiện vẫn chủ yếu dừng ở mức khuyến khích, chưa tạo được động lực tài chính đủ mạnh để thu hút khu vực tư nhân và đầu tư quốc tế. Dự thảo cũng thiếu cơ chế thử nghiệm linh hoạt cho các lĩnh vực mới, đồng thời chưa có các chỉ tiêu định lượng rõ ràng theo từng giai đoạn 5 năm, 10 năm.
Từ đó, đại biểu đặt ra hàng loạt câu hỏi: Bao giờ di sản Việt Nam được số hóa? Khi nào có nền tảng số quốc gia cho văn hóa? Bao giờ xây dựng xong bộ tiêu chí quốc gia về văn hóa? Sau 5 - 10 năm sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, xuất khẩu được bao nhiêu sản phẩm và đóng góp của văn hóa vào GDP là bao nhiêu?
Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (đoàn TP Huế) nhấn mạnh, văn hóa Việt Nam là kết tinh của hàng nghìn năm lịch sử, vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực nội sinh đặc biệt quan trọng cho phát triển đất nước. Theo tinh thần Nghị quyết 80, văn hóa không chỉ dừng ở vai trò nền tảng mà cần trở thành động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành giá trị kinh tế còn hạn chế; bản sắc văn hóa trong nhiều sản phẩm còn mờ nhạt; hệ thống chính sách chưa theo kịp yêu cầu của thời đại số.
Đại biểu đánh giá cao bước chuyển trong tư duy từ “làm văn hóa” sang “phát triển công nghiệp văn hóa”. Tuy nhiên, dự thảo hiện vẫn dừng ở mức định hướng, chưa đủ chặt chẽ để hình thành một ngành kinh tế văn hóa đúng nghĩa.
"Thực tiễn tại các địa phương như Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Ninh Bình cho thấy nhiều mô hình đã hình thành, song sản phẩm đầu ra chưa đậm bản sắc Việt Nam, còn thiên về gia công, phụ thuộc vào công nghệ và vốn ngoại. Nếu không có thiết kế chính sách đủ mạnh, chúng ta có thể xây dựng khu sáng tạo nhưng lại không tạo ra giá trị văn hóa Việt”, đại biểu Sửu cảnh báo.
Cần thí điểm các “đặc khu sáng tạo văn hóa” tại các đô thị lớn và địa phương có bề dày văn hóa
Từ thực tiễn nêu trên, đại biểu Trần Thị Vân đề xuất một loạt giải pháp trọng tâm. Về chuyển đổi số , cần xác định đây là trụ cột trung tâm. Theo đó, cần đẩy mạnh số hóa di sản, xây dựng nền tảng số quốc gia để phân phối nội dung văn hóa, hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ số và bảo vệ bản quyền trên môi trường số.
Về chính sách tài chính - thuế cần thiết kế mạnh mẽ hơn. Ngoài đề xuất áp dụng mức VAT ưu đãi 5%, cần giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cạnh tranh, thực hiện miễn giảm dài hạn cho các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm, đồng thời cho phép khấu trừ cao hơn đối với chi phí sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh, game và âm nhạc số là những công cụ đã được nhiều quốc gia sử dụng hiệu quả để thu hút đầu tư.
Về đất đai và hạ tầng đề nghị quy định rõ tỷ lệ quỹ đất dành cho không gian sáng tạo, áp dụng cơ chế cho thuê dài hạn với chi phí ưu đãi. Đồng thời, cần thí điểm các “đặc khu sáng tạo văn hóa” tại các đô thị lớn và địa phương có bề dày văn hóa như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Huế và Bắc Ninh.
Kiến nghị bổ sung cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển văn hóa quốc gia, gắn trách nhiệm với người đứng đầu, đồng thời tăng quyền chủ động cho địa phương trong ban hành chính sách ưu đãi đặc thù.
“Khi đó, để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, chúng ta cần chuyển đổi mạnh mẽ tư duy: từ bảo tồn tĩnh sang bảo tồn động; từ hỗ trợ sang đầu tư chiến lược; từ khuyến khích sang tạo động lực thị trường; và từ quản lý văn hóa sang phát triển kinh tế văn hóa”, đại biểu Trần Thị Vân nhấn mạnh, khẳng định đây là con đường để bảo tồn và lan tỏa mạnh mẽ giá trị con người, bản sắc Việt Nam ra thế giới.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu kiếm nghị, cần định nghĩa rõ và lượng hóa khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, với các tiêu chí cụ thể như tỷ lệ doanh nghiệp sáng tạo văn hóa, tỷ lệ sản phẩm mang yếu tố văn hóa Việt, yêu cầu về nghiên cứu, đào tạo, đổi mới sáng tạo, tránh tình trạng “gắn mác văn hóa” cho các khu thương mại đơn thuần.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá bản sắc văn hóa trong sản phẩm sáng tạo. Hiện nay chúng ta đề cao sáng tạo nhưng lại thiếu công cụ đo lường “tính Việt”, do đó cần bổ sung các tiêu chí như khai thác chất liệu văn hóa dân tộc, khả năng chuyển hóa thành sản phẩm mới và năng lực lan tỏa, xây dựng thương hiệu quốc gia.
Cần hoàn thiện cơ chế về sở hữu trí tuệ. Trong thời đại số, giá trị cốt lõi của kinh tế văn hóa nằm ở tài sản trí tuệ (IP). Nếu không có cơ chế bảo hộ, định giá và khai thác thương mại hiệu quả, công nghiệp văn hóa sẽ khó phát triển bền vững.
Liên hệ thực tiễn, đại biểu dẫn chứng Huế, địa phương đã trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ năm 2025 và lựa chọn hướng phát triển dựa trên nền tảng di sản, bản sắc văn hóa đặc sắc. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là làm thế nào để chuyển hóa di sản thành công nghiệp văn hóa có giá trị gia tăng cao.
Trong khi đó, Đồng Nai lại có lợi thế về hạ tầng, nguồn lực đầu tư và khả năng kết nối thị trường, có thể phát triển công nghiệp văn hóa gắn với công nghệ và chuỗi giá trị hiện đại. Từ sự so sánh này, đại biểu cho rằng nghị quyết cần thiết kế chính sách đủ linh hoạt để mỗi địa phương phát huy lợi thế riêng, đồng thời vẫn đóng góp vào chiến lược văn hóa quốc gia thống nhất.
Đối với nội dung bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số tại Điều 6, đại biểu đề nghị bổ sung định hướng “kinh tế hóa di sản”, xây dựng chính sách đặc thù cho nghệ nhân, chú trọng đào tạo thế hệ kế cận và thiết lập cơ chế đánh giá hiệu quả cụ thể.