Về Lò lu Đại Hưng, lắng nghe câu chuyện của đất, lửa và thời gian

VOV.VN - Giữa nhịp sống hiện đại, Lò lu Đại Hưng vẫn đỏ lửa, lưu giữ gần 180 năm tinh hoa nghề gốm thủ công và câu chuyện về đất, lửa cùng tình yêu nghề của bao thế hệ người thợ Nam Bộ.

Giữa những tuyến đường bê tông hối hả của vùng đất Bình Dương xưa – nơi từng được biết đến là “thủ phủ công nghiệp” của miền Nam – vẫn có một góc nhỏ thời gian lặng lẽ trôi qua, nơi khói lò quyện cùng hơi đất, nơi ngọn lửa ngày ngày âm ỉ cháy sau bốn vòm lò cổ kính. Đó là Lò lu Đại Hưng – một làng nghề truyền thống đã bền bỉ tồn tại khoảng 180 năm, lưu giữ những dấu ấn quý giá của nghề gốm thủ công Nam Bộ.

Được công nhận là di tích cấp tỉnh vào năm 2006, nơi đây không chỉ là chứng nhân của một thời nghề xưa, mà còn là nơi lưu giữ nét đẹp lao động cần mẫn, sự khéo léo của đôi bàn tay và tình yêu nghề được truyền qua bao thế hệ. Vượt qua những đổi thay của thời gian, Lò lu Đại Hưng hôm nay vẫn đón khách bằng vẻ mộc mạc, chân tình của một làng nghề xưa.

Giữa những ngày tháng Mười, khi mưa nắng giao mùa khẽ chạm vào nhịp sống miền Đông Nam Bộ, hãy cùng trở về Lò lu Đại Hưng, để lắng nghe câu chuyện của đất, của lửa và của những tháng năm vẫn âm thầm được gìn giữ nơi đây.

Hơn hai thế kỷ trước, từ những chuyến di dân phương Nam, những người thợ gốm mang theo cả tâm hồn và đôi bàn tay khéo léo gieo hạt giống nghề lên mảnh đất này. Trải qua bao dâu bể, bao thăng trầm của thời cuộc, lò lu Đại Hưng vẫn đứng đó, nép mình khiêm nhường trên diện tích gần 11.000 mét vuông.

Nơi đây không có sự xô bồ, không có tiếng máy móc gầm rú vô cảm. Người ta gắn bó với Đại Hưng bằng cái nghĩa, cái tình của những con người một nắng hai sương. Như chú Bùi Văn Giang (hay còn gọi là chú Tám Giang) – người truyền nhân đã dành trọn cả cuộc đời để chăm chút cho từng tấc đất, từng vỏ lò. Đối với họ, giữ lò không chỉ là mưu sinh, mà là giữ lại giọt mồ hôi của ông cha, giữ lại một phần linh hồn của văn hóa Nam Bộ đang ngày một mai mọt trước những tiện nghi vô cảm của thời hiện đại.

"Gia đình của chú hồi trước anh chị em là làm công nhân của người Hoa. Sau khi giải phóng, người Hoa mới giao lại cho Nhà nước. Sau khi Nhà nước làm ăn thất bại về hợp tác xã, người dân địa phương làm nghề mới nói với chú là chú có chút đỉnh vốn thì bỏ ra làm để lấy lại cái nghề, vì người ta cũng yêu nghề. Vì yêu nghề nên mới giữ lại cái nghề truyền thống. Tính đến nay là tới đời thứ sáu rồi; giờ chú về hưu giao lại cho con, cũng để gìn giữ lịch sử của lò", chú Bùi Văn Giang chia sẻ.

Điều làm nên nét độc đáo của lu Đại Hưng chính là quy trình chế tác hoàn toàn thủ công, không phụ thuộc vào máy móc hiện đại. Mỗi sản phẩm là kết tinh của đôi bàn tay khéo léo, kinh nghiệm và tâm huyết của người thợ. Từ những thớ đất mộc mạc, qua sự tỉ mỉ và kiên nhẫn của người thợ, những chiếc lu dần thành hình, mang theo nét đẹp bền bỉ của một nghề xưa.

"Toàn bộ là thủ công, bây giờ mình có đỡ được cái thủ công là bằng cái chạy đất, mấy cán đất có điện. Còn ngày xưa đó thì một người đứng ra đạp đất rồi ình vô góc cột cho nó ráo rồi mới bắt đầu tới người in. Chứ bây giờ thì nó có máy được hoàn toàn thủ công hết nhưng mà có máy để có điện cán đất cho nó khác lại một chút xíu chà đất thôi", chú Giang nói.

Có những người đã dành cả đời mình cho những chiếc lu, khạp, hũ... không chỉ là nghề mưu sinh của nhiều thế hệ mà còn là một bảo tàng sống lưu giữ những kỹ thuật và giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất Nam Bộ xưa.

Anh Gia Bảo – người đã gắn bó với công việc này 30 năm chia sẻ: "Làm nghề này 30 năm rồi. Tại vì hồi lúc còn nhỏ mình tới những cái lò này thấy rồi thích. Thích nên mới am tường được cái nghề gốm sứ này rồi mới theo. Mình theo mình học là học theo bà cô. Bà cô làm dưới lò, mình thấy ham quá mới nhảy vô học, rồi nó bám riết tới bây giờ là 30 năm".

Hành trình của một chiếc lu Đại Hưng bắt đầu từ đất sét được nhào nặn, ủ kỹ để đạt độ dẻo mịn. Qua đôi bàn tay khéo léo của người thợ, khối đất vô tri dần thành hình những chiếc lu, chiếc khạp, chiếc vại mộc mạc. Từng động tác đặt đất vào khuôn, lật, xén gọt rồi làm mịn đều thuần thục, nhịp nhàng, như một điệu vũ với đất được lưu truyền qua bao thế hệ.

"Nó nhiều công đoạn lắm, công đoạn đầu là phải nhồi đất. Nhồi đất xong rồi mới ra in, in phần miệng, rồi phần hông, rồi phần đáy, nó ba phần, rồi đó mình mới đợi cho nó khô, nó ráo là đàng hoàng , đợi cho nó khô ráo rồi bắt đầu mình mới mới ráp lại thành cái lu, mình mới giao cho chủ, rồi tự chủ giải quyết những cái như nó đồ khô, sối gì đó là tùy chủ", anh Bảo chia sẻ.

Sự tồn tại và phát triển của lò lu đặc biệt này vừa giúp lưu giữ được một nghề truyền thống của địa phương, vừa góp phần phát triển kinh tế trong vùng khi nơi đây trở thành một trung tâm sản xuất gốm lớn, cung cấp các vật dụng thiết yếu cho đời sống sinh hoạt cho cả vùng Nam Bộ, thậm chí xuất khẩu sang các nước lân cận như Campuchia.

Thời gian qua, chính quyền địa phương đã đưa lò lu vào khai thác du lịch, thu hút đông khảo khách tham quan, tìm hiểu. Đến đây, du khách có cơ hội chứng kiến tận mắt quá trình làm lu, hiểu thêm về văn hóa và lịch sử của làng nghề, qua đó góp phần quảng bá và bảo tồn di sản này.

"Năm nay thành phố ủng hộ, sửa chữa lại, xác nhận hỗ trợ 150 tỷ để trùng tu toàn bộ: xây dựng bến bãi cho ca nô, làm đường sông phía sau, rồi xây nhà nghỉ, nhà ăn, nhà đón khách và công nhân; mục đích là gìn giữ lại văn hóa lịch sử", anh Bảo nói.

Dù đã lùi về phía sau, trao lại việc quản lý cho các con, nhưng mỗi khi nhắc đến nghề, trong ánh mắt chú Tám Giang và những người anh em vẫn ánh lên niềm say mê, tình yêu sâu nặng với nghề truyền thống đã gắn bó cả một đời.

"Bây giờ mình già rồi, giờ mình phải truyền lại cho hai thằng con nó quản lý để nó lại gìn giữ về sau. Còn chứ ông anh tôi nay là 90 tuổi rồi mà sáng nào cũng phải đi qua lò một vòng ông mới về mà còn nhớ riết vậy thôi".

Giữa thời đại mà vạn vật đều chạy đua với sự nhanh gọn và máy móc vô tri, có một điều kỳ diệu vẫn âm thầm hiện hữu suốt hơn hai thế kỷ qua ở Bình Dương cũ – TP.HCM mới. Đó là tại Lò lu Đại Hưng, người ta không đúc sản phẩm bằng khuôn thép, mà "nặn" nên từng chiếc lu, cái khạp bằng chính hơi thở, mồ hôi và đôi bàn tay chai sần của con người.

Điều đặc biệt và ấn tượng nhất ở nơi này chính là sự sống. Một di sản sống nguyên vẹn đến ngỡ ngàng – nơi đất sét, lửa đỏ và tình người hòa quyện vào nhau, bất chấp mọi đổi thay của thời gian. 

r0024500.jpg

Sắc chàm - dấu ấn văn hóa của người Nùng An ở Cao Bằng

VOV.VN - Ở xã Quảng Uyên (Cao Bằng), sắc chàm thấm vào từng sợi vải, nếp nhà và ký ức của người Nùng An. Qua đôi bàn tay người thợ, nghề dệt, nhuộm chàm không chỉ lưu giữ tri thức dân gian mà còn kể câu chuyện về bản sắc văn hóa, về hành trình gìn giữ nghề truyền thống giữa nhịp sống đang đổi thay.

 

 

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Nâng tầm di sản bằng sinh kế - lời giải cho bài toán phát triển bền vững
Nâng tầm di sản bằng sinh kế - lời giải cho bài toán phát triển bền vững

VOV.VN - Hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, Đồng Nai chọn hướng đi không “đóng băng” di sản, mà làm cho nét văn hóa bản địa thực sự "sống dậy” giữa nhịp đập kinh tế. Khi văn hóa trở thành sinh kế giúp người dân sống tốt, bản sắc dân tộc tự khắc tìm thấy động lực nội sinh để khôi phục và trường tồn.

Nâng tầm di sản bằng sinh kế - lời giải cho bài toán phát triển bền vững

Nâng tầm di sản bằng sinh kế - lời giải cho bài toán phát triển bền vững

VOV.VN - Hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, Đồng Nai chọn hướng đi không “đóng băng” di sản, mà làm cho nét văn hóa bản địa thực sự "sống dậy” giữa nhịp đập kinh tế. Khi văn hóa trở thành sinh kế giúp người dân sống tốt, bản sắc dân tộc tự khắc tìm thấy động lực nội sinh để khôi phục và trường tồn.

Một tiếng khèn, một đời người
Một tiếng khèn, một đời người

VOV.VN - Có những âm thanh, chỉ cần nghe một lần, người ta biết mình đang ở đâu. Ở những bản Mông trên núi cao Lai Châu, đó có thể là tiếng khèn. Tiếng khèn bắt đầu từ tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ, theo bước chân trai gái xuống hội, hiện diện trong những nghi lễ thiêng liêng và tiễn người đã khuất về với tổ tiên

Một tiếng khèn, một đời người

Một tiếng khèn, một đời người

VOV.VN - Có những âm thanh, chỉ cần nghe một lần, người ta biết mình đang ở đâu. Ở những bản Mông trên núi cao Lai Châu, đó có thể là tiếng khèn. Tiếng khèn bắt đầu từ tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ, theo bước chân trai gái xuống hội, hiện diện trong những nghi lễ thiêng liêng và tiễn người đã khuất về với tổ tiên

Làm gì để giá trị văn hóa Việt trở thành nguồn lực kinh tế?
Làm gì để giá trị văn hóa Việt trở thành nguồn lực kinh tế?

VOV.VN - Việt Nam sở hữu kho tàng di sản phong phú, giàu tiềm năng sáng tạo và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để những giá trị văn hóa trở thành sản phẩm có sức cạnh tranh, công nghiệp văn hóa vẫn cần tháo gỡ nhiều rào cản về cơ chế, nguồn lực và tư duy phát triển.

Làm gì để giá trị văn hóa Việt trở thành nguồn lực kinh tế?

Làm gì để giá trị văn hóa Việt trở thành nguồn lực kinh tế?

VOV.VN - Việt Nam sở hữu kho tàng di sản phong phú, giàu tiềm năng sáng tạo và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để những giá trị văn hóa trở thành sản phẩm có sức cạnh tranh, công nghiệp văn hóa vẫn cần tháo gỡ nhiều rào cản về cơ chế, nguồn lực và tư duy phát triển.