Một ngày ở làng gốm cổ Kim Lan, nghe chuyện nghìn năm từ đất và lửa

VOV.VN - Men theo triền sông Hồng về phía Đông Hà Nội, làng gốm Kim Lan lưu giữ nhiều lớp ký ức qua những mảnh gốm, dấu tích khảo cổ và các xưởng nghề vẫn đỏ lửa hôm nay. Từ quá khứ hưng thịnh thời Lý - Trần đến hiện tại, câu chuyện giữ nghề vẫn được tiếp nối qua nhiều thế hệ.

Nằm liền kề làng gốm Bát Tràng, Kim Lan cũng là một làng nghề lâu đời bên tả ngạn sông Hồng, gắn bó lâu đời với nghề gốm. Nếu Bát Tràng đã quen thuộc với nhiều du khách, thì Kim Lan lại mang dáng vẻ lặng hơn, với câu chuyện nghề được nhận diện từ những lớp dấu tích khảo cổ và ký ức của chính người dân địa phương.

Nếu chỉ nhìn vào những xưởng gốm đang hoạt động hôm nay, khó hình dung Kim Lan từng có một quá khứ kéo dài qua nhiều thế kỷ. Câu chuyện về làng nghề này không được nối lại từ những trang sử đầy đủ, mà từ những gì dòng sông Hồng để lộ sau mỗi lần bờ bãi biến động: mảnh bát, đĩa, gạch ngói, bao nung, con kê và nhiều dấu tích của một khu vực từng sản xuất gốm với quy mô đáng kể.

Đó cũng là điều khiến một ngày ở Kim Lan khác với chuyến ghé thăm một làng nghề thông thường. Trước khi nhìn người thợ tạo ra một sản phẩm mới, du khách có thể lần ngược về quá khứ để hiểu nghề gốm ở vùng đất này đã hình thành, phát triển rồi trải qua những quãng thăng trầm như thế nào.

Một làng gốm được nhận diện lại từ lòng đất

Bãi Hàm Rồng nằm ven tả ngạn sông Hồng là một trong những địa điểm quan trọng để nhận diện lịch sử Kim Lan.

Từ năm 1967 và đặc biệt trong các thập niên 1980 - 1990, nhiều hiện vật liên tục lộ ra do sạt lở bờ sông. Một số người cao tuổi trong làng, trong đó có ông Nguyễn Việt Hồng, ông Nguyễn Văn Nhung, đã chủ động thu gom, phân loại và giữ lại số lượng lớn cổ vật. Cuối năm 2000, một bức tâm thư của người dân địa phương được gửi đến các cơ quan chuyên môn, từ đó mở ra những cuộc khảo sát và khai quật khoa học tại Bãi Hàm Rồng.

Từ năm 2001 đến 2005, các cơ quan nghiên cứu đã thực hiện ba đợt khai quật với tổng diện tích khoảng 460m². Những lớp đất dưới Bãi Hàm Rồng cho thấy quá trình cư trú và sản xuất kéo dài qua nhiều thời kỳ, trong đó lớp văn hóa thế kỷ XIII - XIV đặc biệt giàu hiện vật. Bao nung, con kê, phế phẩm gốm, đồ nung hỏng cùng số lượng lớn sản phẩm gốm sứ trở thành những bằng chứng quan trọng về hoạt động sản xuất tại chỗ.

Điều thú vị là lịch sử Kim Lan không chỉ được kể bằng những chiếc bát hay chiếc đĩa còn tương đối nguyên vẹn.

Một trong những hiện vật đáng chú ý là gạch có chữ “Giang Tây Quân”, được xác định thuộc thế kỷ IX. Loại gạch này có những điểm tương đồng về kiểu dáng và kỹ thuật với hiện vật từng được tìm thấy tại lớp văn hóa sớm của Hoàng thành Thăng Long. Bên cạnh đó còn có gạch ô trám lồng, ngói trang trí, các dòng gốm men ngọc, men nâu, hoa nâu, trắng ngà, tiền lam cùng nhiều dụng cụ phục vụ quá trình nung gốm.

Những phát hiện ấy giúp hình dung Kim Lan từng nằm trong một không gian sản xuất và giao thương gắn chặt với vùng kinh thành. Các nghiên cứu khảo cổ xác định nghề gốm tại đây đã hình thành từ sớm và đạt giai đoạn phát triển mạnh trong thời Lý - Trần. Tới thế kỷ XIII - XIV, lượng di vật và phế phẩm sản xuất để lại đặc biệt phong phú. 

Vì thế, đến Kim Lan hôm nay, người ta không chỉ tìm hiểu một nghề đang tồn tại, mà còn có thể nhìn thấy những dấu vết cụ thể của một không gian sản xuất cách hiện tại nhiều thế kỷ.

Bảo tàng do chính người làng góp sức dựng nên

Phần quá khứ ấy hiện được tập hợp tương đối rõ nét trong Bảo tàng Gốm sứ Kim Lan.

Bảo tàng chính thức khai trương năm 2012, trưng bày khoảng 300 hiện vật tiêu biểu được chọn từ số lượng lớn cổ vật từng được người dân địa phương thu gom và lưu giữ. Quá trình hình thành bảo tàng có sự tham gia của cộng đồng Kim Lan cùng các nhà nghiên cứu, trong đó có nhà khảo cổ học Nhật Bản Nishimura Masanari - người dành nhiều năm nghiên cứu di chỉ.

Đi qua không gian này, sự phát triển của gốm Kim Lan hiện lên không phải bằng một câu chuyện duy nhất mà qua rất nhiều lớp vật chứng: từ vật liệu xây dựng, công cụ nung cho đến đồ gốm sinh hoạt.

Nghệ nhân Ưu tú Đào Việt Bình, Chủ tịch Hội Gốm sứ Kim Lan, nhiều năm tham gia gìn giữ và giới thiệu nghề truyền thống. Qua câu chuyện của ông, có thể thấy với người dân địa phương, việc tập hợp và lưu giữ cổ vật không đơn thuần nhằm tạo nên một nơi trưng bày. Những hiện vật được các thế hệ đi trước nhặt lên từ bãi sông, giữ lại rồi trao cho bảo tàng chính là một cách để lịch sử làng nghề không bị thất lạc.

Ông Đào Việt Bình cũng đặc biệt nhấn mạnh giai đoạn Lý - Trần, khi sản xuất gốm tại Kim Lan phát triển mạnh. Còn bảo tàng, theo cách nhìn của những người gắn bó với làng, là nơi để thế hệ sau có thể tiếp cận trực tiếp với những dấu tích mà cha ông đã để lại.

Điều đáng chú ý là lịch sử nghề gốm Kim Lan không hoàn toàn liên tục. Các tài liệu cho thấy sau thời kỳ phát triển mạnh, nghề dần suy giảm và từng có một giai đoạn gián đoạn. Đến cuối thế kỷ XX, hoạt động sản xuất gốm mới được phục hồi rõ rệt.

Chi tiết ấy khiến câu chuyện giữ nghề hôm nay trở nên đáng chú ý hơn: đó không chỉ là tiếp nhận một nghề đang vận hành đều đặn qua hàng nghìn năm, mà còn là hành trình khôi phục sau những khoảng đứt gãy.

Ngọn lửa của hôm nay

Ra khỏi bảo tàng, quá khứ không còn nằm sau những tủ kính.

Ở những xưởng sản xuất trong làng, đất sét tiếp tục được tạo hình trên bàn xoay, rồi trải qua các công đoạn phơi, trang trí và nung. Một bên là những mảnh gốm đã nằm dưới đất hàng trăm năm; một bên là những sản phẩm vừa được người thợ làm ra. Sự tiếp nối ấy là phần dễ cảm nhận nhất trong một ngày khám phá Kim Lan.

Nghệ nhân Phạm Văn Nguyên đã gắn bó hơn nửa đời người với nghề. Thay vì chuyển hoàn toàn sang phương thức sản xuất mới, ông vẫn theo đuổi kỹ thuật vuốt tay truyền thống.

Với ông, làm gốm trước hết bắt đầu từ việc hiểu đất. Nguyên liệu phải được lựa chọn phù hợp, còn kỹ năng tạo hình chỉ có thể hình thành sau quá trình thực hành lâu dài. Chính vì vậy, giữ nghề không đơn thuần là giữ một mẫu sản phẩm cũ, mà còn là giữ cách người thợ làm việc với nguyên liệu và những kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm.

Ở bàn xoay, một khối đất tưởng chừng không có gì đặc biệt dần được dựng thành hình. Công đoạn ấy cũng cho thấy vì sao nghề thủ công khó chỉ học bằng lý thuyết. Lực tay mạnh hay nhẹ, tốc độ bàn xoay, độ ẩm của đất đều ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm.

Kim Lan hôm nay vì thế tồn tại đồng thời ở hai trạng thái. Một Kim Lan nằm trong các tầng khảo cổ, với gạch “Giang Tây Quân”, bao nung, con kê và những dòng men của nhiều thế kỷ trước. Một Kim Lan khác vẫn đang vận động trong các xưởng nghề, nơi người thợ tiếp tục biến đất thành những đồ vật phục vụ đời sống.

Hai không gian ấy cách nhau hàng trăm năm nhưng lại gặp nhau trong cùng một ngôi làng.

Một ngày ở Kim Lan có lẽ chưa đủ để hiểu hết lịch sử vùng đất ven sông Hồng này. Nhưng từ Bãi Hàm Rồng đến bảo tàng, rồi từ bảo tàng tới những bàn xoay đang hoạt động, người xem có thể nhận ra điều làm nên giá trị riêng của Kim Lan: quá khứ không chỉ được nhắc lại bằng ký ức, mà còn có bằng chứng nằm trong lòng đất; còn nghề gốm không chỉ nằm trong bảo tàng, mà vẫn đang được tiếp tục trong đời sống hôm nay.

rs-nguoi-dan-ban-du-lich-cong-dong-tu-lu-tia-lo-xa-pu-nhi-phan-khoi-don-dep-ban-lang-don-du-khach.jpg

Mở lối phát triển du lịch từ Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông

VOV.VN - Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, người Mông hôm nay đang tìm cách đưa văn hóa bước vào đời sống mới, gắn với du lịch, sản phẩm và sinh kế. Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ 4 tại Điện Biên mở ra không gian mới để văn hóa được trao truyền, phát huy và tạo ra những giá trị mới.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Xây dựng làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch
Xây dựng làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch

VOV.VN - Giai đoạn 2026–2030, thành phố Quảng Ninh đặt mục tiêu công nhận thêm 13 làng nghề, 4 làng nghề truyền thống; phát triển các làng nghề thành sản phẩm văn hóa – du lịch. Đây là hướng đi nhằm bảo tồn giá trị nghề truyền thống, tạo sinh kế tại chỗ và bổ sung những sản phẩm trải nghiệm đặc trưng cho du lịch.

Xây dựng làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch

Xây dựng làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch

VOV.VN - Giai đoạn 2026–2030, thành phố Quảng Ninh đặt mục tiêu công nhận thêm 13 làng nghề, 4 làng nghề truyền thống; phát triển các làng nghề thành sản phẩm văn hóa – du lịch. Đây là hướng đi nhằm bảo tồn giá trị nghề truyền thống, tạo sinh kế tại chỗ và bổ sung những sản phẩm trải nghiệm đặc trưng cho du lịch.

Nghe Then kể chuyện bản làng
Nghe Then kể chuyện bản làng

VOV.VN - Ở xóm Thị Ngân, Thạch An, Cao Bằng, em Ngô Thanh Trúc mới 9 tuổi đã học đàn tính, hát Then cổ cùng mẹ. Em tập từng nốt đàn, học từng câu tiếng Tày và tò mò về những câu chuyện trong lời hát, mở ra câu chuyện về cách Then được trao lại trong đời sống hôm nay.

Nghe Then kể chuyện bản làng

Nghe Then kể chuyện bản làng

VOV.VN - Ở xóm Thị Ngân, Thạch An, Cao Bằng, em Ngô Thanh Trúc mới 9 tuổi đã học đàn tính, hát Then cổ cùng mẹ. Em tập từng nốt đàn, học từng câu tiếng Tày và tò mò về những câu chuyện trong lời hát, mở ra câu chuyện về cách Then được trao lại trong đời sống hôm nay.

Việt Nam có “mỏ IP” từ di sản, ẩm thực, làng nghề nhưng khai thác thế nào?
Việt Nam có “mỏ IP” từ di sản, ẩm thực, làng nghề nhưng khai thác thế nào?

VOV.VN - Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, từ di sản, lịch sử, ẩm thực, làng nghề đến những câu chuyện, nhân vật và địa danh. Để những tài nguyên này trở thành chất liệu sáng tạo, phát triển thành IP và tạo giá trị trên thị trường cần sự tham gia của nhiều mắt xích.

Việt Nam có “mỏ IP” từ di sản, ẩm thực, làng nghề nhưng khai thác thế nào?

Việt Nam có “mỏ IP” từ di sản, ẩm thực, làng nghề nhưng khai thác thế nào?

VOV.VN - Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, từ di sản, lịch sử, ẩm thực, làng nghề đến những câu chuyện, nhân vật và địa danh. Để những tài nguyên này trở thành chất liệu sáng tạo, phát triển thành IP và tạo giá trị trên thị trường cần sự tham gia của nhiều mắt xích.

Quảng bá, kết nối làng nghề trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch
Quảng bá, kết nối làng nghề trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch

VOV.VN - Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn sẽ được Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp tổ chức từ ngày 8 – 12/10/2026 tại Hà Nội, cùng với Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 – năm 2026 và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.

Quảng bá, kết nối làng nghề trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch

Quảng bá, kết nối làng nghề trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch

VOV.VN - Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn sẽ được Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp tổ chức từ ngày 8 – 12/10/2026 tại Hà Nội, cùng với Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 – năm 2026 và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.