Xây dựng làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch
VOV.VN - Giai đoạn 2026–2030, thành phố Quảng Ninh đặt mục tiêu công nhận thêm 13 làng nghề, 4 làng nghề truyền thống; phát triển các làng nghề thành sản phẩm văn hóa – du lịch. Đây là hướng đi nhằm bảo tồn giá trị nghề truyền thống, tạo sinh kế tại chỗ và bổ sung những sản phẩm trải nghiệm đặc trưng cho du lịch.
Hiện nay, Quảng Ninh có 3 làng nghề truyền thống đã được công nhận, gồm: làng nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ Cống Mương, làng nghề đan ngư cụ Hưng Học và làng nghề Mai Cảnh, phường Bình Khê. Các làng nghề có lịch sử lâu đời gắn với đời sống sản xuất và văn hóa cộng đồng tại khu vực Quảng Yên và Đông Triều trước đây. Việc duy trì nghề không chỉ tạo việc làm, thu nhập mà còn góp phần lưu giữ kỹ thuật sản xuất, tập quán và không gian văn hóa của cư dân địa phương.
Theo Quyết định số 213 ngày 16/1/2026 của UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt Đề án phát triển làng nghề truyền thống thành sản phẩm văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030, thành phố Quảng Ninh tiếp tục thực hiện các thủ tục công nhận và phát triển những nghề, làng nghề có tiềm năng. Trong đó, một số nghề, sản phẩm được định hướng gắn với phát triển du lịch như chế biến củ cải Đầm Hà, miến dong Bình Liêu, nước mắm truyền thống Vân Đồn, chè Đường Hoa, dược liệu Ba Chẽ, đan lưới Cái Đước, hoa Đồng Chè, cam Vân Đồn và làng du lịch cộng đồng Khe Phương.
Các nghề như bánh gio Phong Cốc, bún Hiệp Hòa, gốm Đông Triều, đan ngư cụ Hưng Học, điêu khắc than đá, đóng tàu vỏ gỗ Cống Mương được định hướng bảo tồn gắn với phát triển văn hóa, du lịch. Tại Bình Liêu, miến dong đang được định hướng phát triển thành sản phẩm gắn với làng nghề. Anh Trần Văn Hoàng - người Sán Chỉ, Giám đốc HTX Nông, Lâm nghiệp và Dịch vụ Húc Động cho rằng việc phát triển làng nghề sẽ tạo điều kiện để người dân cùng tham gia, mở rộng việc làm và duy trì nghề truyền thống trong cộng đồng.
“Tôi hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát triển làng nghề của thành phố Quảng Ninh. Phát triển làng nghề thì chúng tôi sẽ huy động được bà con cũng như các cơ sở tham gia. Đây chính là công việc trực tiếp hằng ngày của chúng tôi, tạo được công ăn việc làm cho cả người trẻ và người già. Hơn nữa, làm nghề truyền thống cần cả một cộng đồng tạo vừa được giá trị về vật chất lại tạo được giá trị về tinh thần cho mọi người” - anh Trần Văn Hoàng cho biết thêm.
Trước những vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới, Quảng Ninh yêu cầu các địa phương phải chuyển cách tiếp cận từ bảo tồn đơn thuần sang phát huy giá trị kinh tế, văn hóa của làng nghề. Các không gian sản xuất cần từng bước được tổ chức theo hướng kết hợp sản xuất, trưng bày và trải nghiệm để du khách có thể tìm hiểu nghề, trực tiếp tham gia một số công đoạn và mua sản phẩm tại nơi sản xuất.
Ông Lý Thành Luân, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Liêu cho biết "Về việc xây dựng làng nghề, UBND xã Bình Liêu cũng đã tiến hành khảo sát các vị trí lập quy hoạch chung của xã. Trong quá trình lập quy hoạch chung, xã sẽ tích hợp nội dung này vào trong đồ án quy hoạch. Xã cũng đã trao đổi với nhân dân về chủ trương thực hiện làng nghê. Trong thời gian tới, UBND xã sẽ tập trung tạo điều kiện cần thiết nhất, hình thành làng nghề sản xuất miến dong tại Bình Liêu".
Cùng với quy hoạch không gian và đầu tư hạ tầng, Quảng Ninh dự kiến xây dựng bộ nhận diện du lịch làng nghề, bản đồ số và tăng cường quảng bá trên các nền tảng trực tuyến, Google Maps, sàn thương mại điện tử. Hướng đi này sẽ góp phần quan trọng để Quảng Ninh thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 đó là: Thu nhập bình quân của lao động ngành nghề nông thôn tăng 2,5-3 lần so với năm 2020; 80% lao động được đào tạo, trong đó 35% được cấp bằng, chứng chỉ. Đồng thời, mỗi năm thu hút thêm 10-15% khách tham quan làng nghề và đào tạo từ 60-80 nghệ nhân, thợ lành nghề, người dân địa phương về kỹ năng làm du lịch. Những con số này sẽ đưa làng nghề trở thành là động lực để thúc đẩy kinh tế nông thôn vừa góp phần lưu giữ nghề truyền thống vừa từng bước trở thành không gian văn hóa sống - nơi giá trị của nghề được chuyển hóa thành sản phẩm du lịch và sinh kế bền vững cho cộng đồng.