Điểm cộng IELTS và bài toán ngoại ngữ của kỹ sư, bác sĩ tương lai

VOV.VN - Khi doanh nghiệp cần kỹ sư giỏi chuyên môn, có ngoại ngữ, còn các trường y vẫn đặt chuẩn tiếng Anh đầu ra, câu chuyện điểm cộng IELTS không chỉ là hơn kém một điểm mà còn đặt ra bài toán giữ động lực học ngoại ngữ từ phổ thông.

Khối kỹ thuật, y khoa không thể yếu ngoại ngữ

Theo định hướng tuyển sinh từ năm 2027, Bộ GD&ĐT không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ. Nếu ngoại ngữ là năng lực đầu vào cần thiết, trường có thể đưa môn này thành cấu phần chính thức và cho phép quy đổi chứng chỉ tương đương. Tuy nhiên, với ngành chỉ xét Toán, Vật lý, Hóa học, Bộ cho rằng việc cộng thêm điểm IELTS có thể đưa một tiêu chí ngoài yêu cầu đầu vào vào quá trình cạnh tranh.

Xét về kỹ thuật tuyển sinh, lập luận này nhằm bảo đảm thí sinh cùng ngành được đánh giá trên cùng tiêu chí. Nhưng nhìn từ thị trường lao động, một nghịch lý xuất hiện: những học sinh mạnh Toán, Lý, Hóa hôm nay chính là nguồn kỹ sư, chuyên gia công nghệ, nhà nghiên cứu của 5-10 năm tới; trong khi đây lại là nhóm ngành cần ngoại ngữ để đọc tài liệu, tiếp nhận công nghệ và làm việc trong môi trường quốc tế.

Khảo sát quý IV/2026 của ManpowerGroup tại Việt Nam cho thấy 57% doanh nghiệp tăng tuyển nhân sự mới vào nghề so với năm 2025. Kỹ thuật đứng đầu nhóm vị trí tăng tuyển với 48%, tiếp đến là AI 37%, CNTT và dữ liệu 37%. Manpower Việt Nam cũng ghi nhận nhu cầu nhân sự kỹ thuật thành thạo tiếng Anh hoặc tiếng Trung tăng mạnh, trong khi ngoại ngữ vẫn là điểm hạn chế của nhiều lao động.

Như Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam phân tích, tiếng Anh đã trở thành một kỹ năng nghề nghiệp của nhân lực công nghệ cao bởi đây là ngôn ngữ phổ biến trong tài liệu kỹ thuật, tài nguyên lập trình, nghiên cứu và tiêu chuẩn quốc tế.

Y khoa cũng cho thấy yêu cầu tương tự. Đại học Y Dược TP.HCM hiện quy định sinh viên phải có minh chứng năng lực tiếng Anh để xét chuẩn đầu ra; trường còn tổ chức các khóa tiếng Anh y khoa nhằm giúp người học sử dụng ngoại ngữ để phân tích dữ liệu, trình bày tình huống lâm sàng và tiếp cận kiến thức chuyên môn.

Từ góc nhìn này, Luật sư Giang Nguyễn, Giám đốc The Ivy-League Vietnam lo ngại nếu học sinh xác định con đường vào ngành kỹ thuật chỉ cần Toán, Lý, Hóa, một bộ phận có thể giảm đầu tư cho tiếng Anh. “Những học sinh khối khoa học tự nhiên lại chính là lực lượng cần được khuyến khích học tiếng Anh nhiều nhất”, ông Giang nhận định. Theo ông, nhóm này sẽ trở thành lực lượng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo trong 10-20 năm tới, vì vậy cần được chuẩn bị đồng thời cả chuyên môn và ngoại ngữ. Điều đáng suy nghĩ là: ngoại ngữ có thể không nằm trong tổ hợp tuyển sinh của một kỹ sư tương lai, nhưng gần như chắc chắn sẽ trở lại trong quá trình học tập và nghề nghiệp của người đó.

Ông Q., Phó Tổng giám đốc một doanh nghiệp xây dựng hàng đầu Việt Nam, cho biết nhu cầu nhân lực kỹ thuật có ngoại ngữ đang ngày càng cấp thiết, nhất là khi nhiều dự án hạ tầng sử dụng thiết bị, công nghệ, tiêu chuẩn và hồ sơ kỹ thuật quốc tế. “Trong xây dựng, từ cấu kiện, thiết bị, bản vẽ kỹ thuật đến vận hành đều đòi hỏi kỹ sư có khả năng đọc hiểu tài liệu và làm việc với đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp cần những kỹ sư không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có trình độ tiếng Anh tốt, ở một số vị trí tương đương IELTS 7.0. Nếu sinh viên bước vào đại học với nền tảng ngoại ngữ quá thấp, bốn năm trên giảng đường sẽ rất vất vả để vừa học chuyên môn, vừa bù lại khoảng trống tiếng Anh”, ông Q. nói.

Theo ông, ngoại ngữ càng được hình thành sớm, người học càng có điều kiện rèn khả năng giao tiếp, thích nghi và tiếp cận tri thức mới. “Tiếng Anh không thay thế chuyên môn, nhưng trong môi trường kỹ thuật hiện đại, nó là công cụ giúp chuyên môn đi xa hơn. Nếu đến khi tốt nghiệp mới bắt đầu bù ngoại ngữ thì đã chậm một bước so với yêu cầu của thị trường lao động”, ông Q. nhận định.

IELTS 7.0: phía sau một điểm cộng là nhiều năm rèn luyện

Trong tranh luận hiện nay, IELTS 6.0, 7.0 hay 7.5 thường được đặt cạnh một câu hỏi ngắn: được cộng bao nhiêu điểm? Nhưng để đạt IELTS 7.0, thí sinh phải được đánh giá đồng thời bốn kỹ năng nghe, đọc, viết và nói. Theo hệ thống IELTS, band 7 tương ứng mức “Good user”, người thi có khả năng sử dụng tiếng Anh tương đối thành thạo, xử lý được ngôn ngữ phức tạp và hiểu những lập luận chi tiết.

Một kết quả như vậy không đơn thuần được tạo ra trong vài tháng luyện thi. Phía sau đó thường là nhiều năm học tiếng Anh trong nhà trường, sự đầu tư của gia đình, giáo dục ngoài công lập và đặc biệt là quá trình tự học của chính học sinh.

Bà Nguyễn Thị N, Giám đốc trung tâm Anh ngữ ở Hà Nội, cho rằng người ngoài thường chỉ nhìn thấy tấm chứng chỉ và phần điểm cộng, nhưng để đạt 6.5 hay 7.0, người học phải trải qua quá trình rèn luyện dài ở cả bốn kỹ năng. Theo bà, khi vào đại học, năng lực ấy tiếp tục được sử dụng để đọc giáo trình, tìm tài liệu, nghe giảng, tham gia chương trình trao đổi và tiếp cận tri thức quốc tế.

Ở cấp quốc gia, mục tiêu cũng đã vượt khỏi câu chuyện một chứng chỉ. Quyết định 2371/QĐ-TTg đặt mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Tổng kết Đề án Ngoại ngữ Quốc gia giai đoạn 2017-2025 cho thấy tỷ lệ giáo viên ngoại ngữ đạt chuẩn tăng từ 66% lên 88%; trên 99% học sinh được học chương trình tiếng Anh 10 năm và tỷ lệ học sinh có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế phục vụ xét tốt nghiệp, tuyển sinh tăng qua các năm.

Điểm cộng vì thế từng là một trong nhiều động lực khiến học sinh, gia đình và cả hệ thống giáo dục ngoài nhà trường đầu tư mạnh hơn cho năng lực nghe, nói, đọc, viết. 

35.900 thí sinh: đặt con số vào đúng mẫu số

Năm 2026 có hơn 35.900 thí sinh sử dụng IELTS để được cộng điểm. Nhưng cả nước có 874.811 người đăng ký xét tuyển đại học. Như vậy, nhóm này chỉ chiếm khoảng 4,1% - tương đương cứ khoảng 24 thí sinh mới có một người sử dụng IELTS để nhận điểm cộng. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất với 8.318 thí sinh, tương đương khoảng 0,95% tổng số người xét tuyển. Quan trọng hơn, 35.900 không phải số người “nhờ IELTS mà đỗ”. Trong đó có người không cộng vẫn vượt điểm chuẩn, có người được cộng nhưng vẫn không trúng tuyển. 

Ở chiều ngược lại, Bộ GD&ĐT cũng chỉ ra bất cập đáng lưu ý: cùng IELTS 6.0 nhưng các trường quy thành tới 26 mức điểm cộng; ở nhóm 5% ngành có điểm chuẩn cao nhất, hơn 30% người nhập học có điểm cộng. Với ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng, 51,42% thí sinh có điểm cộng có điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành. Một bên là yêu cầu chuẩn hóa tuyển sinh, bảo đảm cùng một năng lực không được tính hai lần; bên kia là nguy cơ làm suy giảm động lực học ngoại ngữ, nhất là với học sinh STEM - nhóm sẽ trở thành kỹ sư, chuyên gia công nghệ, bác sĩ, nhà nghiên cứu trong tương lai.

Vì vậy, điều Bộ GD&ĐT cần cân nhắc không chỉ là sự công bằng của một mùa tuyển sinh, mà còn là tác động của chính sách hôm nay tới chất lượng nguồn nhân lực sau 5-10 năm. Nếu việc thu hẹp cơ chế ghi nhận ngoại ngữ khiến học sinh giảm động lực đầu tư cho tiếng Anh từ sớm, cái giá phải trả có thể chỉ xuất hiện khi các em bước vào đại học và thị trường lao động. Trong bối cảnh tiếng Anh vẫn là công cụ học tập, làm việc và hội nhập được sử dụng rộng rãi trên thế giới, còn IELTS là một trong những chứng chỉ quốc tế phổ biến để chứng minh năng lực ấy, mỗi thay đổi chính sách cần được tính toán để sửa bất cập mà không vô tình làm yếu đi động lực học ngoại ngữ của cả một thế hệ.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Bỏ điểm cộng IELTS: Bộ Giáo dục và Đào tạo nói rõ quyền lợi của 2K9
Bỏ điểm cộng IELTS: Bộ Giáo dục và Đào tạo nói rõ quyền lợi của 2K9

VOV.VN - Sau những băn khoăn của phụ huynh, học sinh 2K9 về việc thay đổi cách sử dụng IELTS trong tuyển sinh, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT, khẳng định dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ mà thay đổi cách ghi nhận, nhằm đánh giá đúng năng lực và bảo đảm công bằng.

Bỏ điểm cộng IELTS: Bộ Giáo dục và Đào tạo nói rõ quyền lợi của 2K9

Bỏ điểm cộng IELTS: Bộ Giáo dục và Đào tạo nói rõ quyền lợi của 2K9

VOV.VN - Sau những băn khoăn của phụ huynh, học sinh 2K9 về việc thay đổi cách sử dụng IELTS trong tuyển sinh, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT, khẳng định dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ mà thay đổi cách ghi nhận, nhằm đánh giá đúng năng lực và bảo đảm công bằng.

Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình
Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình

VOV.VN - Nhiều học sinh 2K9, hiện đang học lớp 12, đã học và thi IELTS từ THCS với mục tiêu tạo lợi thế khi xét tuyển đại học. Dự thảo tuyển sinh 2027 dự kiến không cho các trường tự quy định điểm cộng chứng chỉ, khiến học sinh, phụ huynh lo kế hoạch học tập và xét tuyển được chuẩn bị nhiều năm có thể bị đảo lộn.

Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình

Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình

VOV.VN - Nhiều học sinh 2K9, hiện đang học lớp 12, đã học và thi IELTS từ THCS với mục tiêu tạo lợi thế khi xét tuyển đại học. Dự thảo tuyển sinh 2027 dự kiến không cho các trường tự quy định điểm cộng chứng chỉ, khiến học sinh, phụ huynh lo kế hoạch học tập và xét tuyển được chuẩn bị nhiều năm có thể bị đảo lộn.

Không còn điểm cộng IELTS, giảm phương thức tuyển sinh: Áp lực đổi hướng?
Không còn điểm cộng IELTS, giảm phương thức tuyển sinh: Áp lực đổi hướng?

VOV.VN - Dự kiến từ năm 2027, đại học bỏ điểm cộng cho chứng chỉ, thành tích; mỗi ngành tối đa 3 phương thức xét tuyển, từ năm 2028 dự kiến còn 1. Theo thầy Đinh Đức Hiền, tuyển sinh có thể gọn hơn, nhưng áp lực học sinh có thể chỉ chuyển từ cuộc đua này sang cuộc đua khác.

Không còn điểm cộng IELTS, giảm phương thức tuyển sinh: Áp lực đổi hướng?

Không còn điểm cộng IELTS, giảm phương thức tuyển sinh: Áp lực đổi hướng?

VOV.VN - Dự kiến từ năm 2027, đại học bỏ điểm cộng cho chứng chỉ, thành tích; mỗi ngành tối đa 3 phương thức xét tuyển, từ năm 2028 dự kiến còn 1. Theo thầy Đinh Đức Hiền, tuyển sinh có thể gọn hơn, nhưng áp lực học sinh có thể chỉ chuyển từ cuộc đua này sang cuộc đua khác.