Nói “bỏ IELTS” hoặc “không còn xét chứng chỉ ngoại ngữ” là không chính xác

VOV.VN - Đại diện Bộ GD-ĐT khẳng định, cách nói “bỏ IELTS” hoặc “không còn xét chứng chỉ ngoại ngữ” là không chính xác. Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ hoặc chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài.

Điều chỉnh điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ nhằm bảo đảm công bằng tuyển sinh. Nhưng khi Việt Nam cần nguồn nhân lực đủ sức làm việc trong môi trường quốc tế, bài toán còn là tạo động lực học ngoại ngữ và ghi nhận năng lực ấy đúng với yêu cầu từng ngành.

Không phải bỏ chứng chỉ, mà là đặt đúng vị trí

Trước hết, cần làm rõ dự thảo tuyển sinh năm 2027 không có nghĩa “bỏ IELTS” hay không còn xét chứng chỉ ngoại ngữ. Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD&ĐT, chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ hoặc chứng minh yêu cầu đầu vào đối với chương trình cần ngoại ngữ. Nội dung dự kiến thay đổi là không còn cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính do từng trường tự quy định.

Cân nhắc trước khi bỏ chính sách tuyển sinh, tạo động lực học tập

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, các chuyên gia giáo dục cho rằng đằng sau câu chuyện điểm số còn là bài toán dài hạn: Việt Nam muốn hình thành một thế hệ lao động có năng lực ngoại ngữ như thế nào và hệ thống giáo dục sẽ tạo động lực ra sao để đạt mục tiêu đó? Ngoại ngữ không phải năng lực có thể hình thành trong một mùa luyện thi. Theo Chương trình giáo dục phổ thông, môn Tiếng Anh ở THPT có 105 tiết mỗi năm, tổng cộng 315 tiết trong ba năm, tương đương khoảng 3 tiết/tuần, trong khi người học phải phát triển đồng thời các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết.

Con số 315 tiết càng đáng chú ý khi Việt Nam đã đặt mục tiêu từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Trong điều kiện sĩ số, chất lượng giáo viên và môi trường thực hành còn khác nhau, giờ học chính khóa khó có thể là nguồn lực duy nhất. Khả năng tự học, thực hành ngoài nhà trường và động lực đầu tư dài hạn của học sinh vì thế rất quan trọng.

Kết quả tổng kết Đề án dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2017-2025 cho thấy tỷ lệ giáo viên ngoại ngữ đạt chuẩn tăng từ 66% năm 2018 lên 88% năm 2025; trên 99% học sinh được học chương trình tiếng Anh 10 năm. Tỷ lệ học sinh lớp 1-2 làm quen tiếng Anh tăng từ 43% năm 2020 lên 69% năm 2024. Số học sinh có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế sử dụng trong xét tốt nghiệp, tuyển sinh cũng tăng qua các năm; số học sinh, sinh viên đủ năng lực ngoại ngữ để du học, nhận học bổng nước ngoài ngày càng nhiều.

Điều đó không có nghĩa điểm cộng là nguyên nhân duy nhất khiến học sinh đầu tư cho ngoại ngữ. Nhu cầu du học, hội nhập, điều kiện gia đình và thị trường lao động đều có tác động. Tuy nhiên, khi một năng lực được hệ thống tuyển sinh ghi nhận, người học rõ ràng có thêm lý do để dành thời gian và nguồn lực cho năng lực ấy.

Bà Trần T.T, giáo viên tiếng Anh một trường THPT tại TP.HCM, cho rằng chính sách cần phát đi thông điệp đủ rõ để học sinh không hiểu “bỏ điểm cộng” đồng nghĩa với “ngoại ngữ không còn quan trọng”. Theo bà, điều cần thay đổi là chuyển động lực từ học để lấy điểm thưởng sang học để đạt một chuẩn năng lực thực sự có giá trị cho ngành đào tạo và nghề nghiệp sau này.

Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là loại bỏ những bất hợp lý của cơ chế cộng điểm. Nếu lợi ích tuyển sinh gắn với ngoại ngữ giảm mạnh mà chưa có cơ chế ghi nhận khác đủ rõ, một bộ phận học sinh có thể chuyển thời gian sang những môn đem lại lợi thế trực tiếp hơn khi xét tuyển. Khi ấy, công bằng tuyển sinh có thể được cải thiện ở một khía cạnh nhưng mục tiêu nâng cao năng lực ngoại ngữ của nguồn nhân lực lại chịu thêm áp lực.

Từ mùa tuyển sinh đến năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam

Những học sinh sinh năm 2009 sẽ bước vào thị trường lao động khoảng đầu thập niên 2030. Khi đó, cuộc cạnh tranh không còn diễn ra trong phòng thi. Năm 2025, quy mô GDP Việt Nam đạt khoảng 514 tỷ USD, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khoảng 53,5 triệu người, trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ở mức 29,2%. Năng suất lao động bình quân đạt khoảng 9.809 USD/lao động. Đến cuối tháng 8/2026, Việt Nam có 47.793 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký trên 561,6 tỷ USD, với nhà đầu tư đến từ 154 quốc gia và vùng lãnh thổ. Riêng 8 tháng năm 2026, khu vực FDI xuất khẩu hơn 300,3 tỷ USD, chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 61,3% tổng vốn FDI lũy kế.

Những con số ấy cho thấy ngày càng nhiều lao động Việt Nam tham gia các chuỗi sản xuất, công nghệ, thương mại và dịch vụ xuyên biên giới. Để dịch chuyển từ gia công sang kỹ thuật, thiết kế, nghiên cứu, quản trị và những công việc có giá trị gia tăng cao hơn, nguồn nhân lực không chỉ cần chuyên môn mà còn cần khả năng tiếp cận tri thức và giao tiếp quốc tế.

Ông Trần Quốc Hưng, Giám đốc nhân sự một doanh nghiệp sản xuất có vốn Nhật Bản tại Đồng Nai, nhìn nhận doanh nghiệp không tuyển một “tấm chứng chỉ ngoại ngữ”. Nhưng một kỹ sư dù giỏi chuyên môn, nếu không đọc được tài liệu của tập đoàn mẹ, trao đổi với chuyên gia nước ngoài hay tham gia các chương trình đào tạo quốc tế, sẽ khó tiến lên những vị trí có giá trị gia tăng cao.

Ngoại ngữ vì vậy không còn là câu chuyện riêng của ngành ngôn ngữ. Công nghệ thông tin cần tiếp cận kho tri thức quốc tế; logistics làm việc với hãng tàu và đối tác xuyên biên giới; kỹ thuật cần tiếp nhận chuyển giao công nghệ; thương mại, tài chính, hàng không, du lịch hay kinh doanh quốc tế đều có những vị trí mà ngoại ngữ là công cụ làm việc trực tiếp.

Một chuẩn năng lực, nhiều “tấm vé” để chứng minh

Từ những tranh luận hiện nay, một hướng có thể cân nhắc là chuyển từ “điểm thưởng cho chứng chỉ” sang “chuẩn ngoại ngữ theo yêu cầu từng ngành”. Với ngành ít sử dụng ngoại ngữ, chứng chỉ không nhất thiết tạo thêm lợi thế. Ngược lại, ở chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài hoặc ngành có mức độ sử dụng ngoại ngữ cao, trường có thể xác định đây là một cấu phần đầu vào nhưng phải công khai sớm và giải trình được mức độ cần thiết.

Vấn đề cũng không chỉ là IELTS,. IELTS, TOEFL, Cambridge, PTE hay các chứng chỉ tiếng Trung, Nhật, Hàn, Đức, Pháp... nên được xem là những con đường chứng minh năng lực, thay vì một đặc quyền tuyển sinh. Học sinh không đủ điều kiện tài chính thi chứng chỉ quốc tế cũng cần có phương thức trong nước đáng tin cậy, chi phí phù hợp để chứng minh trình độ tương đương.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cách tiếp cận này đã được áp dụng ở nhiều hệ thống. Đại học Quốc gia Singapore yêu cầu thí sinh sử dụng bằng tốt nghiệp THPT Việt Nam đáp ứng yêu cầu riêng về tiếng Anh và chấp nhận nhiều chứng chỉ. Tại Nhật Bản, EJU không kiểm tra tiếng Anh nên từng trường có thể yêu cầu chứng chỉ hoặc bài kiểm tra ngoại ngữ riêng. Ở Đức, yêu cầu ngôn ngữ phụ thuộc chương trình đào tạo và có nhiều hình thức chứng minh năng lực khác nhau. Điểm chung không nằm ở tên chứng chỉ mà ở nguyên tắc: chương trình cần năng lực nào thì tuyển sinh cần nhận diện được năng lực ấy bằng những con đường có thể kiểm chứng và tiếp cận công bằng.

dai-hoc-1_1.jpg

Bỏ điểm cộng IELTS: Bộ Giáo dục và Đào tạo nói rõ quyền lợi của 2K9

VOV.VN - Sau những băn khoăn của phụ huynh, học sinh 2K9 về việc thay đổi cách sử dụng IELTS trong tuyển sinh, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT, khẳng định dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ mà thay đổi cách ghi nhận, nhằm đánh giá đúng năng lực và bảo đảm công bằng.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình
Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình

VOV.VN - Nhiều học sinh 2K9, hiện đang học lớp 12, đã học và thi IELTS từ THCS với mục tiêu tạo lợi thế khi xét tuyển đại học. Dự thảo tuyển sinh 2027 dự kiến không cho các trường tự quy định điểm cộng chứng chỉ, khiến học sinh, phụ huynh lo kế hoạch học tập và xét tuyển được chuẩn bị nhiều năm có thể bị đảo lộn.

Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình

Bỏ cộng điểm IELTS: Học sinh lo mất lợi thế, chuyên gia đề xuất lộ trình

VOV.VN - Nhiều học sinh 2K9, hiện đang học lớp 12, đã học và thi IELTS từ THCS với mục tiêu tạo lợi thế khi xét tuyển đại học. Dự thảo tuyển sinh 2027 dự kiến không cho các trường tự quy định điểm cộng chứng chỉ, khiến học sinh, phụ huynh lo kế hoạch học tập và xét tuyển được chuẩn bị nhiều năm có thể bị đảo lộn.

Bộ GD-ĐT: Không áp chỉ tiêu học sinh khá, giỏi, khắc phục bệnh thành tích
Bộ GD-ĐT: Không áp chỉ tiêu học sinh khá, giỏi, khắc phục bệnh thành tích

VOV.VN - Bộ GD-ĐT vừa ban hành chương trình hành động nhằm siết kỷ cương, đề cao trung thực, liêm chính và chấm dứt những biểu hiện chạy theo thành tích, hướng tới các hoạt động giáo dục thực chất.

Bộ GD-ĐT: Không áp chỉ tiêu học sinh khá, giỏi, khắc phục bệnh thành tích

Bộ GD-ĐT: Không áp chỉ tiêu học sinh khá, giỏi, khắc phục bệnh thành tích

VOV.VN - Bộ GD-ĐT vừa ban hành chương trình hành động nhằm siết kỷ cương, đề cao trung thực, liêm chính và chấm dứt những biểu hiện chạy theo thành tích, hướng tới các hoạt động giáo dục thực chất.