Thu hẹp khoảng cách đào tạo - việc làm: Cần bắt đầu từ đâu?

VOV.VN - Tấm bằng đại học từng được xem là “tấm vé” đảm bảo cho một tương lai nghề nghiệp ổn định nhưng không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp lại loay hoay giữa ngã rẽ nghề nghiệp. Sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu thực tế là bài toán lớn cần lời giải từ cả nhà trường lẫn thị trường.

 

Phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam đã trao đổi vấn đề này với Tiến sĩ Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô.

PV: Thưa Tiến sĩ, thực tế hiện nay, có khoảng 30% sinh viên không làm đúng ngành, thậm chí hàng trăm nghìn cử nhân thất nghiệp hoặc làm trái chuyên môn mỗi năm. Theo ông, nguyên nhân chính nằm ở đâu?

Tiến sĩ Phạm Hiệp: Chúng ta đang sống ở một giai đoạn mà giáo dục đại học là đại chúng. Bởi vậy, việc sinh viên ra trường không kết nối được ngay với thị trường lao động cũng là điều bình thường. Đây là hiện tượng chung trên toàn cầu, thậm chí ở các nước khác, con số đo lường thậm chí còn cao hơn ở Việt Nam. Ở góc độ kinh tế học lao động, tỷ lệ nhất định thất nghiệp và nhất định làm trái ngành cũng là động lực cho sự phấn đấu của xã hội nói chung, chứ không nên đòi hỏi con số này phải bằng 0.

Tuy nhiên, chúng ta nên so sánh con số này của năm nay so với năm trước và của năm nay so với cách đây 5 - 10 năm. Nếu con số đó có xu hướng tăng thì đó là vấn đề mà các nhà làm chính sách, các nhà phân tích cần phải xem xét.

Việc sinh viên ra trường thất nghiệp hoặc phải làm trái ngành được đào tạo, nguyên nhân đầu tiên là do thị trường lao động không tạo đủ việc làm, còn các trường đại học chỉ là nguyên nhân thứ hai. Nếu thị trường tạo ra được nhiều công ăn việc làm thì sẽ không có chuyện sinh viên ra trường thất nghiệp.

PV: Có nhiều ý kiến cho rằng, giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của thị trường lao động vẫn có khoảng cách. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính dẫn đến khoảng cách này?

Tiến sĩ Phạm Hiệp: Đầu tiên, phải khẳng định rằng, không thể yêu cầu nhà trường trong vòng 4 năm đào tạo với 120 - 130 tín chỉ mà đáp ứng hết được những yêu cầu của thị trường lao động. Trường đại học có chuẩn của nó, còn thị trường lao động thì thay đổi, từ công ty này sang công ty kia cũng thay đổi. Vì vậy, đòi hỏi nhà trường phải đáp ứng hết mọi yêu cầu của doanh nghiệp là điều không thể, mà phải có những mẫu số chung do hai bên cùng thống nhất.

Chưa kể đôi khi chúng ta không thể bóc tách được nguyên nhân của việc sinh viên ra trường làm trái ngành hoặc không xin được việc làm ngay là do trường đại học đào tạo không đủ tốt, sinh viên không đủ cố gắng hay thị trường đang không tạo đủ việc làm. Tất nhiên từ phía các bên liên quan đều phải có hành động, biện pháp để khắc phục những vấn đề của họ, nhưng thực tế thì không phải lúc nào cũng được như kỳ vọng.

Nguyên nhân nữa là do thị trường lao động thay đổi rất nhiều và nhanh, nhất là trong bối cảnh xã hội có những thay đổi mạnh mẽ trong 5 - 7 năm gần đây: Covid-19, AI, những cuộc chiến trên thế giới, giá xăng dầu,… ảnh hưởng lập tức tới toàn bộ các ngành kinh tế. Trong khi đó, đặc thù của giáo dục là tạo ra một sản phẩm và hình dung về sản phẩm đó phải từ 4 năm trước, nhưng 4 năm sau sinh viên mới ra trường, thì rõ ràng cái hình dung về sản phẩm từ 4, 5 năm trước có thể không cập nhật kịp.

Ngoài ra, cần nói đến vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp. Bây giờ, các doanh nghiệp nói là sinh viên thiếu kỹ năng này kia, nhưng doanh nghiệp có trả tiền cho trường để đào tạo những kỹ năng đó đâu. Quay trở lại câu chuyện là phải có chuẩn nghề nghiệp, có danh mục nghề nghiệp và bản mô tả công việc cho từng ngành, trong đó nói rõ cần kỹ năng gì, để từ đó nhà trường, sinh viên có căn cứ điều chỉnh. Bản mô tả công việc đó phải được cập nhật, điều chỉnh hằng năm hoặc 2 năm 1 lần. Nhưng ở ta hiện nay hoàn toàn không có danh sách về thị trường lao động và bản mô tả công việc như vậy. Thông tin về thị trường, về lao động thì rời rạc, không có tính phổ quát. Và hiện có mấy ngành nghề có được những chuẩn đào tạo về kiến thức, kỹ năng của đúng ngành?

Trong câu chuyện này, cần phát huy vai trò của các hội nghề nghiệp, các đơn vị có tính chất liên minh kết nối giữa nhà trường và các tổ chức nghề nghiệp.

PV: Theo ông, các trường đại học cần thay đổi thế nào để chương trình đào tạo tiệm cận hơn với thực tế công việc?

Tiến sĩ Phạm Hiệp: Các mô hình để rút ngắn khoảng cách giữa chương trình đào tạo với thực tế đều đã có. Ví dụ, mô hình về học mà nhúng với môi trường làm việc, phương pháp làm việc dựa trên dự án hoặc những chương trình chất lượng mà trong đó yêu cầu chặt chẽ về thực tập, về kết nối doanh nghiệp,… Vấn đề là các trường triển khai như thế nào, có thực sự muốn điều chỉnh chương trình để đáp ứng nhu cầu thị trường, hay chỉ làm cho đủ giấy tờ?

Ở góc độ quản lý nhà nước thì phải minh bạch về thông tin thị trường lao động, và những thông tin đó phải được kết nối để so sánh được với nhau. Đôi khi chúng ta cứ nhìn vào con số sau 1 năm ra trường thế nào, thấy nhiều người làm trái ngành, hoặc thất nghiệp, thành ra lo lắng. Nhưng biết đâu 10 năm sau, tình hình lại tốt lên? Tuổi trẻ mới ra trường, phải để các bạn ấy trải nghiệm cuộc sống. Quan trọng là thông tin, dữ liệu thực tế phải đầy đủ thì mới có cơ sở cho nhà nghiên cứu phân tích, và nhà trường cũng có căn cứ để thay đổi, bổ sung chương trình đào tạo cho phù hợp.

Việc thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tế là câu chuyện của bốn bên: Nhà tuyển dụng - nhà nước - nhà trường - người lao động. Nhà nước cần đưa ra những chính sách phù hợp để tạo động lực, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp gắn kết hơn với nhà trường, gắn kết được lợi ích của hai bên với nhau.

PV: Việc gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế và mang tính hình thức. Cần làm gì để mối liên kết này trở nên thực chất hơn, thưa ông?

Tiến sĩ Phạm Hiệp: Đầu tiên phải có những quy định, chính sách. Ví dụ, Nhà nước ra quy định mức tối thiểu mà doanh nghiệp phải đầu tư cho nghiên cứu phát triển, cho lao động trẻ, và khoản chi đấy được ưu đãi về thuế.

Hiện nay, các trường đại học đều đã chủ động kết nối với doanh nghiệp, rồi tổ chức những cuộc hội thảo, tọa đàm, làm hội chợ, mô hình mời doanh nhân đến giảng bài, mời nhà tuyển dụng đến, nhưng khó nhất là làm tốt đến đâu. Bởi vấn đề lớn nhất là các trường đại học không phải lúc nào cũng đủ tự chủ và nguồn lực tài chính để mời doanh nghiệp về.

PV: Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi cao, theo ông, những kỹ năng mềm nào sinh viên cần được trang bị ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, để không bị “hụt hơi” và thích nghi được ngay khi bước vào môi trường làm việc thực tế?

Tiến sĩ Phạm Hiệp: Ngoài năng lực, cần có 3 kỹ năng cốt lõi, xuyên suốt trong tất cả các ngành, đó là tiếng Anh để tiếp cận được tài liệu trên toàn thế giới, công nghệ để tiếp cận được những tiến bộ công nghệ và kỹ năng học tập suốt đời để trong bất kỳ tình huống nào cũng đáp ứng được sự thay đổi mới của thị trường lao động.

Doanh nghiệp cũng cần cho sinh viên một độ trễ nhất định, tức là không thể nào yêu cầu một sinh viên vừa ra trường đã phải có kinh nghiệm, khả năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống tốt.

PV: Ngoài kiến thức chuyên môn, yếu tố “va chạm thực tế” được nhắc đến nhiều. Vậy làm thế nào để sinh viên có thể tích lũy vốn sống một cách hiệu quả, thưa ông?

Tiến sĩ Phạm Hiệp: Phải tăng số giờ thực tập. Sinh viên phải được đi thực tập ngay từ khoảng học kỳ II. Việc thực tập phải nhúng vào môi trường làm việc, sinh viên phải được sống và làm việc thật sự. Và người hỗ trợ sinh viên trong quá trình thực tập cũng phải được đào tạo về sư phạm, chứ không phải cứ giao việc rồi để họ muốn làm gì thì làm. Việc này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp, và cần có chính sách.

Về phía giảng viên cũng phải có trải nghiệm, kinh nghiệm với thị trường lao động. Điều này giúp họ cập nhật xu thế thị trường, sự phát triển của các ngành nghề, đời sống kinh tế, sản xuất để quay lại giảng dạy, nghiên cứu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Sinh viên thuê kính thông minh AI để gian lận thi cử
Sinh viên thuê kính thông minh AI để gian lận thi cử

VOV.VN - Thị trường kính thông minh tích hợp AI (trí tuệ nhân tạo) đang phát triển mạnh mẽ, với nhiều ứng dụng tiện lợi như định vị thời gian thực và dịch thuật trực tiếp.

Sinh viên thuê kính thông minh AI để gian lận thi cử

Sinh viên thuê kính thông minh AI để gian lận thi cử

VOV.VN - Thị trường kính thông minh tích hợp AI (trí tuệ nhân tạo) đang phát triển mạnh mẽ, với nhiều ứng dụng tiện lợi như định vị thời gian thực và dịch thuật trực tiếp.

Sinh viên ngành y thoát dần nỗi lo thất nghiệp khi ra trường
Sinh viên ngành y thoát dần nỗi lo thất nghiệp khi ra trường

VOV.VN - Nắm bắt được nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực y tế tại khu vực ĐBSCL, 2 trường đào tạo ngành y - dược tại Cần Thơ là Trường Ðại học Y Dược Cần Thơ và Trường Đại học Nam Cần Thơ vừa công bố đề án tuyển sinh năm 2024. Đồng thời, Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ cũng đề ra những chiến lược hỗ trợ sinh viên khi thực tập, ra trường

Sinh viên ngành y thoát dần nỗi lo thất nghiệp khi ra trường

Sinh viên ngành y thoát dần nỗi lo thất nghiệp khi ra trường

VOV.VN - Nắm bắt được nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực y tế tại khu vực ĐBSCL, 2 trường đào tạo ngành y - dược tại Cần Thơ là Trường Ðại học Y Dược Cần Thơ và Trường Đại học Nam Cần Thơ vừa công bố đề án tuyển sinh năm 2024. Đồng thời, Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ cũng đề ra những chiến lược hỗ trợ sinh viên khi thực tập, ra trường

Sinh viên thất nghiệp, đi làm việc phổ thông: Lỗi tại ai?
Sinh viên thất nghiệp, đi làm việc phổ thông: Lỗi tại ai?

VOV.VN- Để giải quyết thực trạng sinh viên phải “giấu” bằng đại học làm việc phổ thông cần có sự phân luồng nghề nghiệp từ sớm, nâng cao chất lượng dạy và học...

Sinh viên thất nghiệp, đi làm việc phổ thông: Lỗi tại ai?

Sinh viên thất nghiệp, đi làm việc phổ thông: Lỗi tại ai?

VOV.VN- Để giải quyết thực trạng sinh viên phải “giấu” bằng đại học làm việc phổ thông cần có sự phân luồng nghề nghiệp từ sớm, nâng cao chất lượng dạy và học...