Vì sao sản phẩm nghiên cứu vẫn chật vật tìm đường ra thị trường?
VOV.VN - Các trường đại học tiềm năng khoa học có, đội ngũ có, nhu cầu đổi mới công nghệ râm ran mỗi ngày, nhưng vì sao sản phẩm nghiên cứu vẫn chật vật tìm đường ra thị trường?
Việt Nam nói nhiều về đại học đổi mới sáng tạo, đại học khởi nghiệp, hay đại học gắn với doanh nghiệp. Nhưng nhìn vào dòng tiền thực tế, bức tranh bớt đi phần hào hứng. Năm 2023, Đại học Bách khoa Hà Nội có tổng thu 2.137 tỷ đồng, nhưng thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chỉ vỏn vẹn 18 tỷ đồng; Đại học Bách khoa TP.HCM thu 1.003 tỷ đồng, phần này chiếm 44,4 tỷ; Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM thu hơn 1.011 tỷ đồng, thu khoa học công nghệ lẹt đẹt ở mức 4,37 tỷ. Dù có vài điểm sáng như Đại học Kinh tế TP.HCM (đạt 526,6 tỷ đồng từ nghiên cứu và chuyển giao, chiếm khoảng 30% tổng doanh thu), nhưng đó vẫn là ngoại lệ hiếm hoi chứ chưa phải mặt bằng chung.
Những con số trên buộc chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật: tiềm năng khoa học có, đội ngũ có, nhu cầu đổi mới công nghệ râm ran mỗi ngày, nhưng vì sao sản phẩm nghiên cứu vẫn chật vật tìm đường ra thị trường?
Có nghiên cứu, nhưng yếu đường ra thị trường
Báo cáo Từ nghiên cứu đến thị trường của FORWIT (Áo) từng vạch ra ba nút thắt cốt tử: Kiểm chứng thị trường muộn, tốc độ thương mại hóa chậm, và hụt hơi nguồn lực ở giai đoạn cuối. Thực tế cho thấy, các nghiên cứu ít khi "chết yểu" trong phòng thí nghiệm, mà thường gục ngã ở quãng đường từ mẫu thử đến tay khách hàng đầu tiên.
Tại Việt Nam, rào cản này càng lớn khi 98% doanh nghiệp là vừa và nhỏ. Họ nắm chưa tới 30% tổng vốn toàn khu vực doanh nghiệp, dư nợ tín dụng năm 2024 chỉ quanh mức 17,6%. Quy mô nhỏ, vốn mỏng, công nghệ cũ, quản trị chắp vá khiến họ khó có thể chủ động mang tiền đi đặt hàng nghiên cứu dài hơi với các trường đại học. Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) cũng chỉ rõ: Chi cho R&D của doanh nghiệp Việt Nam chỉ vỏn vẹn 0,2% GDP, quá khiêm tốn so với mức 1,7% của Trung Quốc hay 3,6% của Hàn Quốc. Lực kéo yếu từ phía doanh nghiệp đồng nghĩa với việc đại học thiếu vắng một thị trường chuyển giao đủ lớn và sẵn sàng chi trả.
Doanh nghiệp cũng không biết đặt hàng gì cái khó không chỉ dừng ở việc doanh nghiệp ít đặt hàng, mà nhiều khi chính họ cũng loay hoay không biết phải "đặt" cái gì. Một chủ xưởng có thể xót xa khi thấy chi phí điện tăng, tỷ lệ phế phẩm cao, hay đơn hàng xuất khẩu bị trả về, nhưng họ không đủ chuyên môn để dịch những khó khăn đó thành đề bài công nghệ. Phía cơ quan nhà nước cũng tương tự: hô hào chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tăng năng suất, nhưng khi chốt đề tài đặt hàng lại dễ sa đà vào những cái tên "kêu nhưng rỗng", thiếu hoặc mờ nhạt địa chỉ ứng dụng cuối cùng.
Vì thế, đại học không thể ngồi chờ doanh nghiệp mang đề bài tới tận cửa. Nhà khoa học phải xắn tay áo đi vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh để cùng doanh nghiệp bắt đúng bệnh, biến những "nỗi đau mơ hồ" thành bài toán kỹ thuật có lời giải. Chuyển giao công nghệ thực chất không bắt đầu từ phòng thí nghiệm, mà khởi thủy từ chính những vướng mắc của thị trường.
Đại học không thể chỉ bán cái mình có
Hiện nay, không ít đề tài vẫn được đẻ ra từ năng lực sẵn có của giảng viên, từ áp lực chỉ tiêu công bố, hay để đối phó với nhiệm vụ nghiệm thu. Nhà khoa học mê mẩn miệt mài hỏi "có gì mới về học thuật?", trong khi doanh nghiệp chỉ quan tâm "giảm được bao nhiêu chi phí, bao lâu thu hồi vốn, hỏng ai đền?". Hai lăng kính này không được xếp chồng lên nhau ngay từ đầu, hệ quả tất yếu là nghiên cứu rẽ một ngả, thị trường đi một hướng.
Theo Vietnambiz về Đại học Bách khoa TP.HCM giai đoạn 2015–2024 cho thấy, trong 7.842 hợp đồng liên quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ, mảng dịch vụ - tư vấn chiếm tới 91%, hợp đồng chuyển giao công nghệ thực thụ chỉ 5%, còn lại 4% là đào tạo. Dù đây đã là điểm sáng, cơ cấu này vẫn bộc lộ khoảng cách rất xa từ việc đi tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật tiến tới chuyển giao được một công nghệ trọn vẹn. Vấn đề cốt tử nằm ở khâu kiểm chứng: một sản phẩm chưa có khách hàng dùng thử, chưa rõ chi phí dự toán thì vận hành trong phòng thí nghiệm mới chỉ chứng minh được khả năng công nghệ, chứ chưa hé lộ chút năng lực thị trường nào.
Cần tầng trung gian và khách hàng đầu tiên để giải bài toán này, không thể cứ ném đại học và doanh nghiệp ra rồi để họ tự bơi. Nước Đức thành công nhờ mạng lưới Fraunhofer đóng vai trò trung gian - một bệ phóng nghiên cứu ứng dụng thực chiến, có đội ngũ kỹ sư, xưởng thử nghiệm, làm việc theo hợp đồng giải quyết các bài toán công nghiệp và gắn bó đường dài với doanh nghiệp. Singapore lại chọn cách Nhà nước sắm vai "bà đỡ", hỗ trợ trực tiếp các doanh nghiệp nhỏ tiếp cận chuyên gia, kỹ sư để nâng cấp quy trình.
Từ những hình mẫu này, Việt Nam hoàn toàn có thể lập các "đội đặc nhiệm công nghệ" theo ngành tại mỗi trường đại học. Nhóm này (gồm giảng viên, kỹ sư ứng dụng, chuyên gia tài chính, sở hữu trí tuệ) đi xuống nhà máy không phải để chào bán đề tài nằm trên giấy, mà để “nội soi” quy trình: khâu nào đang lãng phí, chỗ nào tự động hóa được, đâu cần vật liệu hay phần mềm mới. Chỉ từ những lần "nội soi" đó mới nảy mầm các mẫu thử và hợp đồng chuyển giao đích thực.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần đóng vai trò "khách hàng đầu tiên" thông qua mua sắm công, tạo bệ đỡ cho các sản phẩm đổi mới sáng tạo nếu chúng đạt chuẩn kỹ thuật minh bạch. Quỹ Đổi mới công nghệ nên xoay trục, dồn lực tài trợ cho những khâu đắt đỏ nhưng sinh tử: làm mẫu thử, kiểm định, chứng nhận, đăng ký sở hữu trí tuệ và tìm khách hàng đầu tay.
Đổi mới sáng tạo cần thước đo thực dụng
Bài báo khoa học vẫn có giá trị riêng, nhưng cần tránh hội chứng "vị công bố" và tuyệt đối không thể dùng nó làm thước đo độc tôn cho năng lực nghiên cứu. Một hợp đồng có dòng tiền, một quy trình giúp nhà máy bớt phế phẩm, một phần mềm được bệnh viện mạnh dạn xài, hay một sáng chế có người chịu mở hầu bao mua - đó mới là giấy chứng nhận uy tín và thực dụng nhất cho năng lực của nhà khoa học.
Sự ách tắc trong chuyển giao không chỉ đốt tiền nghiên cứu mà còn ghì chân năng suất quốc gia. Chừng nào doanh nghiệp chưa thấy "đau" vì công nghệ lạc hậu, Nhà nước chưa quen đặt hàng giải quyết vấn đề thực tế, và đại học chưa xót xa khi chất xám đắp chiếu, thì sự hợp tác ba nhà vẫn chỉ là những cái bắt tay xã giao, loanh quanh ở hội thảo, vài biên bản ghi nhớ và các mô hình trình diễn.
Trước khi vỗ ngực khoe "ngân hàng công nghệ", đại học phải xây dựng bằng được "ngân hàng bài toán". Doanh nghiệp bí từ, đại học phải là người gọi tên nỗi đau đó giúp họ. Đổi mới sáng tạo chỉ thực sự bắt đầu khi có người dùng thật, dòng tiền thật và trách nhiệm thật.